|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Xuân Quyết;
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 92/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt (đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Trần Thị U, sinh năm 1982; đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: Nhật Bản; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (anh Nguyễn Văn D) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xây dựng gia đình với chị Trần Thị U trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/3/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian rồi chị U sang Nhật Bản lao động và sinh sống (khoảng từ năm 2015 cho đến nay). Vợ chồng xa cách về địa lý nên dần không quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị U.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thành D1, sinh ngày 22/02/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2013. Ly hôn, anh nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh sẽ tự thoả thuận với chị U, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị K (mẹ đẻ) và anh Nguyễn Tùng L (em ruột) của chị U xác nhận: Đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn là chị Trần Thị U. Sau khi nhận được Thông báo của Toà án đã liên lạc và thông báo cho chị U nhưng chị U không cung cấp địa chỉ cụ thể ở bên Nhật Bản cho gia đình. Chị U vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình, sau khi biết anh D có đơn ly hôn gửi Toà án thì chị U cũng đồng ý ly hôn với anh D.
Về con chung: Có hai con chung là Nguyễn Thành D1, sinh ngày 22/02/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2013. Hiện các cháu đang sinh sống cùng anh D. Chị U cũng đồng ý để anh D được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh D và chị U tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Anh D và chị U tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nguyên đơn (anh D) đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh D vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị U vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn tình cảm giữa anh D và chị U đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho anh D được ly hôn với chị U.
Về con chung: Anh D và chị U có hai con chung là Nguyễn Thành D1, sinh ngày 22/02/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2013. Anh D nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung nên cần giao cho anh D được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Anh D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn (chị Trần Thị U) có địa chỉ nơi cư trú tại phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (anh Nguyễn Văn D) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn (chị Trần Thị U) vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị U và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 23/3/2008). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị U là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh D chị U phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống xa cách nhau đã lâu, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên anh D khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn với chị U.
[5] Xét thấy, anh D và chị U đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình làm cho cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[6] Về con chung: Anh D và chị U có hai con chung là Nguyễn Thành D1, sinh ngày 22/02/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2013. Hiện anh D là người đang trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con. Ly hôn, anh D nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị U phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Các cháu Nguyễn Thành D1 và Nguyễn Gia H đều có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng với bố. Do vậy cần giao cho anh D được trực tiếp nuôi cả hai con là phù hợp với nguyện vọng của các con và điều kiện, hoàn cảnh thực tế; phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về tài sản chung: Đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Anh Nguyễn Văn D là nguyên đơn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D và chị Trần Thị U có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D được ly hôn với chị Trần Thị U.
- Về con chung: Giao con là Nguyễn Thành D1, sinh ngày 22/02/2009 và Nguyễn Gia H, sinh ngày 01/12/2013 cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh D không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn (anh Nguyễn Văn D) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000099, ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Trần Thị U được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |
Bản án số 197/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 197/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Trần Thị U
