Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 197/2023/HS-ST

Ngày: 29 - 11 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình

Bà Nguyễn Ngọc Cúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 874/2023/QĐ-TA ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Thiên Sanh T, sinh ngày 02/7/2001; tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà La M; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Thiên Sanh H (đã chết); Họ tên mẹ: Châu Thị M1, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Não Thị Minh T1, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 03/6/2023, chuyển tạm giam ngày 12/6/2023 theo Lệnh số: 853/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.

2. Họ và tên: Thành Công H1, sinh ngày 01/10/2000; tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà N; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Thành Công Đ, sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Ngư Nữ Kiều K, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 02/6/2023, chuyển tạm giam ngày 12/6/2023 theo Lệnh số: 852/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.

3. Họ và tên: B, tên gọi khác: Đúng, sinh ngày 06/10/1989; tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà N; Trình độ học vấn: Không đi học; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Họ tên cha: Báo Kiền (đã chết); Họ tên mẹ: Não Thị Ngọc T2, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình, có vợ là Châu Thị Mỹ G, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/5/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Hiện bị cáo đang tạm giam tại trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.

(Các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 02/6/2023, B, Thiên Sanh T, Thành Công H1 và Não Trung H2, sinh năm 1998, ngụ tại thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận cùng một người tên M2 (không rõ họ, địa chỉ) tổ chức nhậu trước cửa phòng trọ của K1 thuộc ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Đến 20 giờ cùng ngày, do hết rượu nên M2 đi sang phòng trọ kế bên chơi, H1 hỏi H2 mượn xe mô tô Vario biển số 85E1-198.39 để cùng T đi mua bia về nhậu tiếp, H2 đồng ý. Tạo điều khiển xe mô tô biển số 85E1- 198.39 chở H1 đến tiệm tạp hoá của chị Quảng Thị D, sinh năm 1993 ngụ tại ấp E, xã T, huyện V mua thiếu 01 thùng bia giá 270.000 đồng. Do có ý định sử dụng ma túy nên H1 bàn bạc với T bán thùng bia vừa mua được lấy tiền mua ma tuý, T đồng ý và chở H1 đem thùng bia đến phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho bà Trương Hải Y, sinh năm 1977 được 220.000 đồng. Sao đó T điều khiển xe mô tô biển số 85E1-198.39 chở H1 đến khu vực bãi rác thuộc phường T, thành phố B. H1 đưa cho T 200.000 đồng rồi đứng bên ngoài đợi còn T đi vào 01 ngôi nhà gần đó gặp người tên S (không rõ họ) mua 200.000 đồng được 01 bịch nilong bên trong là ma tuý đá đem về phòng trọ của K1 rủ K1, H2 sử dụng ma tuý. Kết lấy nỏ thủy tinh có sẵn 01 nắp chai bằng nhựa màu đỏ đưa cho T gắn vào chai nhựa làm dụng cụ sử dụng ma túy đồng thời Tạo đổ ma túy vào trong nỏ thủy tinh nấu lên cùng K1, H2, H1 sử dụng chung. Đến 21 giờ cùng ngày, Công an xã T kiểm tra phòng trọ của K1 thu giữ 03 túi nilong được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và dụng cụ sử dụng ma túy đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K1, H1, Tạo lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.

+ Tang vật, tài sản tạm giữ:

Bên trong 01 giỏ nhựa màu đỏ để trên gác trong phòng trọ: 01 dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nắp chai nhựa màu đỏ bên trên nắp chai có gắn 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh (đã được niêm phong); 03 túi nilong hàn kín bên trong có chứa ma túy (đã được niêm phong); 01 chai nhựa màu trắng, không có nắp, bên trong có nước.

01 xe mô tô Vario 125 biển số 85E1-198.39.

Kết quả xác minh nguồn gốc xe mô tô Vario 125 gắn biển số 85E1-198.39 có số máy JM51E1787640, số khung MH1JM5118MK788124 được đăng ký biển kiểm soát 85D1-651.80 do Nguyễn Hữu K2, sinh năm 2001 ngụ tại khu A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký, do chưa làm việc được với anh Nguyễn Hữu K2 nên chưa có căn cứ để xử lý đối với chiếc xe trên. Do chiếc xe trên không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Hiện tại Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện V giải quyết theo thẩm quyền.

+ Tại Kết luận giám định số: 1172/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Giám định viên Phòng K4 Công an tỉnh Đ kết luận:

Trong nỏ thủy tinh và ống hút được gắn vào nắp nhựa màu đỏ (mẫu M) có phát hiện thấy ma túy loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Mẫu chất màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,2800 gam loại Methamphetamine.

H3 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số: 1172/KL-KTHS.

Tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không ai có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: Nỏ thủy tinh, ống hút được gắn vào nắp nhựa màu đỏ và số ma túy còn lại trong niêm phong số: 1172/KL-KTHS; 01 chai nhựa màu trắng không có nắp bên trong có nước.

Đối với 0,2800 gam ma túy loại Methamphetamine đựng trong 03 túi nilong thu trong giỏ nhựa trên gác phòng trọ chưa xác định được là của ai để khởi tố bị can, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tiếp tục xác minh giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với đối tượng S bán ma túy cho Thiên Sanh T, Thành Công H1 hiện chưa làm việc được, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo luật định.

Đối với Não Trung H2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Châu Thị Mỹ G là vợ Báo Đoàn K3 không biết K3, T, H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Quảng Thị D bán thiếu bia cho Thiên Sanh T, Thành Công H1 nhưng không yêu cầu T, H1 trả lại tiền nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Đối với chị Trương Hải Y không biết T, H1 bán bia để mua ma túy nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Tại bản cáo trạng số: 128/CT-VKSVC ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Thiên Sanh T, Thành Công H1 và B để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Xử phạt bị cáo Thiên Sanh T từ 7 năm 04 tháng đến 7 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Thành Công H1 từ 7 năm 04 tháng đến 7 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo B1 7 năm đến 7 năm 04 tháng tù.
  • - Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Khoảng 21 giờ ngày 02/6/2023, tại phòng trọ của B thuộc ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Thiên Sanh T, Thành Công H1 cùng Báo Đoàn K3 tổ chức cho chính mình và cho N1 Trung Hiếu sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Thiên Sanh T cùng Thành Công H1 góp tiền mua ma túy về phòng trọ của K3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phạm tội vai trò thực hành.

B cung cấp địa điểm, dụng cụ cùng T, H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phạm tội vai trò giúp sức.

[3]. Do vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội, đây là nguyên nhân, mầm mống lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, không có phân công nhiệm vụ cụ thể, bị cáo T và bị cáo H1 chung tiền để mua ma túy còn bị cáo K3 cung cấp địa điểm và dụng cụ để sử dụng ma túy. Vì vậy vai trò của các bị cáo TH1 là ngang nhau và cao hơn bị cáo K3.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo T, bị cáo H1 phạm tội lần đầu, theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

7.1. Đối với N2 thủy tinh, ống hút được gắn vào nắp nhựa màu đỏ và số ma túy còn lại trong niêm phong số: 1172/KL-KTHS không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

7.2. Đối với 01 chai nhựa màu trắng không có nắp bên trong có nước, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy

7.3. Đối với 0,2800 gam ma túy loại Methamphetamine đựng trong 03 túi nilong thu trong giỏ nhựa trên gác phòng trọ chưa xác định được là của ai để khởi tố bị can, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tiếp tục xác minh giải quyết theo quy định pháp luật.

[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo: Thiên Sanh T, Thành Công H1B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 262; 331; 333; 336; 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Xử phạt bị cáo Thiên Sanh T 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023
    • - Xử phạt bị cáo Thành Công H1 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023.
    • - Xử phạt bị cáo B (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy Nỏ thủy tinh, ống hút được gắn vào nắp nhựa màu đỏ và số ma túy còn lại trong niêm phong số: 1172/KL-KTHS được niêm phong ngoài phong bì có chữ ký giám định viên Phan Đình H4, đại diện CQ CSĐT Đỗ Văn S1
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng không có nắp.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

  3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra – CA H.Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan THAHS Công an H.Vĩnh Cửu;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Trung Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 197/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger