Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2024/HS-PT

Ngày: 29/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang.

Bà Phạm Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H- Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 178/2024/TLPT-HS ngày 01/07/2024 đối với các bị cáo Trắng Văn H1, Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T, Chu Văn H2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 14/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trắng Văn H1, sinh năm 1980 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn M, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trắng Nhịp P và bà Nghiêm Thị N; có vợ: Từ Thị D, sinh năm 1983; có 02 con: con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 đến 22/9/2023. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  2. Hoàng Văn S, sinh năm 1962 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Sếch C và bà Hà Thị D1 (đã chết); có vợ: Phùng Thị L; có 05 con: con lớn sinh 1980, con nhỏ sinh 1991; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: không. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  3. Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn M, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Đỗ Thị L1; có vợ: Hoong Thị T1; 01 con, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 06/06/2023 đến 14/06/2023. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
  4. Chu Văn H2, sinh năm 1971 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn D2 (đã chết) và bà Phan Thị B1; có vợ: Phạm Thị C1; có 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: không. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

* Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Trắng Văn H1: bà Thân Thị V- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lương Hà B2, Hoàng Văn L2, Từ V, Bùi Văn T2, Diệp Văn T3, Lê Văn Đ, Phạm Văn C2 và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 50 phút, ngày 02/6/2023, tại cổng khách sạn S1, thuộc thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Phòng C5 Công an tỉnh B bắt quả tang Lài Đức M, sinh năm 1985 và Hoàng Văn L2, sinh năm 1989 đều trú tại thôn M, xã V, huyện L có hành vi bán trái phép vũ khí quân dụng, thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 9T, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 98001241 mang tên Hà Văn H3 của Hoàng Văn L2.

Qua làm việc Cơ quan điều tra phát hiện Hoàng Văn L2 và nhiều đối tượng khác còn có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, đề qua tin nhắn điện thoại, zalo, facebook. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng liên quan đến hành vi đánh bạc, gồm:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 trú tại thôn M, xã V, huyện L, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI1: 860146042480419, EMEI2: 860146042480401, lắp sim 0967.053.613.

Trắng Văn H1, sinh năm 1980 trú tại thôn M, xã V, huyện L, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VivoY16, màu vàng, số EMEI1: 865717060435347, EMEI2: 865717060435354, lắp sim 0949.187.841; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số EMEI: 353071097914034, lắp sim 0984.636.648; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2, màu xanh, số EMEI1: 861599040935859, EMEI2: 861599040935842; 01 thẻ ngân hàng M1 mang tên Trắng Văn H1 và số tiền 89.000.000 đồng.

Lương Hà B2, sinh năm 1987 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOF7, số EMEI1: 868473037718293, EMEI2: 868473037718285, lắp sim 1: 0762.070.987; sim số 2: 0945.295.420.

Từ Văn C3, sinh năm 1990 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bị vỡ màn hình, không lên nguồn.

Diệp Văn T3, sinh năm 1980 trú tại thôn M, xã V, huyện L, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hoàng Văn S, sinh năm Trại Găng, xã V, huyện L, thu giữ số tiền 10.000.000 đồng.

Lần lượt các ngày 06/6/2023, 07/6/2023, Nguyễn Văn T, Trắng Văn H1, Lương Hà B2, Từ Văn C4, Diệp Văn T3, Hoàng Văn S đến Công an tỉnh B đầu thú; các ngày 10/12/2023, 11/12/2023, 12/12/2023, Bùi Văn T2, sinh năm 1986; Phạm Văn C2, sinh năm 1985 cùng trú tại thôn A, xã V, huyện L; Chu Văn H2, sinh năm 1971 trú tại thôn T, xã V, huyện L đến Công an huyện L đầu thú, B2 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số EMEI: 353918105525626; Cảnh giao nộp: 01 điện thoại Nokia màu xanh, lắp sim 0961.045.962; T3 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, EMEI 1: 358860082530788, EMEI2: 358861082530789, lắp sim số 0967.949.878; Sáng giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu VivoV2026, vỏ màu đen, số EMEI: 861177057721890, lắp sim số 0385.073.395. Ngày 27/9/2023, Lê Văn Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại Nokia, màu đen.

Quá trình tiều tra xác định phương thức đánh bạc dưới hình bán số lô, số đề các đối tượng thống nhất với nhau như sau:

  • Dạng đề (gồm đề đặc biệt, đề nhất to, ba càng): Người chơi mua hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất trong kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày. Nếu hai số mà người chơi đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt hoặc giải nhất (tùy theo người chơi đã mua) của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày hôm đó thì sẽ được trả thưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã đặt cược, nếu không trúng thưởng thì mất số tiền đặt cược. Đối với ba càng thì là ba số cuối, nếu trúng thưởng được trả gấp 400 lần số tiền đặt cược.
  • Dạng đầu số: Khách hàng mua số đề đầu từ 0 đến 9 tùy khách chọn một đầu số (ví dụ nếu khách chọn đầu 0 thì từ 00 đến 09 là 10 số, số tiền mua đầu số sẽ nhân với 10 lần) để so với hai số cuối giải đặc biệt hoặc nhất to tùy khách chọn trong kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày. Nếu trúng thưởng thì khách được trả số tiền gấp 70 lần số tiền đã đặt cược, nếu không trúng thì sẽ mất số tiền đã đặt cược.
  • Dạng lô: Người chơi mua hai số cuối trong tất cả 27 giải của kết quả Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày. Nếu hai số mà khách đã mua trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào trong 27 giải thì sẽ trúng thưởng. Mỗi 01 điểm lô mà khách mua sẽ được trả 80.000 đồng nếu trúng thưởng (1 điểm lô người chơi phải mua với giá thông thường là 22.000 đồng). Nếu số lô mà khách mua trùng với hai số cuối của nhiều giải thì được ăn tối đa gấp 3 lần tiền đặt cược (tức là 3 nháy) (1 điểm lô sẽ ăn được 240.000 đồng), nếu số lô khách mua trùng với hai số cuối của hai giải trong 27 giải (tức là 2 nháy) thì sẽ được ăn gấp đôi số tiền đã đặt cược (1 điểm lô được ăn 160.000 đồng), nếu không trúng thì khách sẽ mất số tiền đã đặt cược.
  • Dạng lô xiên (gồm xiên hai, xiên ba, xiên bốn): Người chơi đặt cược 2 cặp số hoặc 3 cặp số hoặc 4 cặp số để cược với hai số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền B. Nếu trúng được trả thưởng gấp 10 lần số tiền đã cược đối với lô xiên 2, gấp 40 lần đối với lô xiên 3, gấp 100 lần đối với lô xiên 4.

Hành vi đánh bạc của các đối tượng cụ thể như sau:

  1. Về hành vi đánh bạc của Hoàng Văn L2 với Nguyễn Văn T
  2. Hoàng Văn L2 sử dụng điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 9T, lắp sim số 0822.445.589 đăng ký thuê bao mang tên Hoàng Văn L2. Sau đó L2 sử dụng số điện thoại trên đăng ký tài khoản Zalo tên “Hoàng Lại”, tài khoản Facebook tên “Lại Hoàng” để nhắn tin mua, bán số lô, số đề với Nguyễn Văn T qua tài khoản “Trường Nguyễn”:

    • Ngày 23/10/2022, Lại mua của T “Lô 11 =100 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Kết quả trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa L2T là 10.200.000 đồng.
    • Ngày 24/10/2022, L2 mua của T “Lô 98=50 điểm, 89 = 50 điểm (giá 22.000 đồng/1 điểm lô); Xiên 2: 86-25 = 200.000 đồng”. Kết quả Lại trúng lô 98 (1 nháy) là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa L2T là: 6.400.000 đồng.
    • Ngày 25/10/2022, L2 mua của T “Lô 58= 50 điểm, 85 = 50 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Kết quả, Lại trúng lô 58 là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa L2T là: 6.200.000 đồng.
    • Ngày 26/10/2022, L2 mua của T “Lô 91= 100 điểm, 90 = 50 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô), xiên 2: 87-21=200.000 đồng. Kết quả, Lại trúng lô 91 là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa L2T là: 11.300.000 đồng. Số tiền đánh bạc giữa L2T đã thanh toán cho nhau xong.

    Các số lô, số đề T bán cho L2, T chuyển cho người bạn không rõ tên tuổi, địa chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh qua tin nhắn M. Đến nay, T không còn điện thoại, Z, F và thông tin nào khác của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ để xử lý đối với người này.

  3. Về hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn T
  4. Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPO, lắp sim số 0967.053.613 đăng ký tài khoản Zalo tên “Nguyentruongtgdd”, tài khoản Facebook tên “Trường N2” để nhắn tin mua, bán số lô, số đề, cụ thể:

    • * Nguyễn Văn T đánh bạc với Diệp Văn T3: T3 sử dụng số điện thoại 0967.949.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0967.053.xxx của T mua số đề, cụ thể: Ngày 06/6/2023, T3 mua của T số đề đặt biệt 79=100.000 đồng. Kết quả trúng thưởng số tiền 7.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa TT3 là: 7.100.000 đồng. TT3 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.
    • * Nguyễn Văn T đánh bạc với Trắng Văn H1: T sử dụng số điện thoại 0967.053.xxx đăng ký tài khoản Zalo tên “Nguyentruongtgdd” nhắn tin vào tài khoản zalo tên “Hhjkkk” đăng ký bằng số điện thoại 0949.187.xxx của H1 để mua số lô, số đề, cụ thể: Ngày 06/6/2023: Trường mua của H1 số đề đặc biệt “78 = 50.000 đồng, 79=100.000 đồng, 63=25.000 đồng”; số lô 33= 20 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô); ba càng đặc biệt: 878=50.000 đồng; nhất to: 63=25.000 đồng. Kết quả, Trường T8=100.000 đồng, tương ứng lĩnh thưởng 7.000.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc với H1 là 7.690.000 đồng. TH1 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.
  5. Về hành vi đánh bạc của Hoàng Văn S
  6. Hoàng Văn S sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo V2026, lắp sim số 0385.073.395 đăng ký tài khoản Zalo tên “H” để nhắn tin mua, bán số lô, số đề cụ thể:

    • * Hoàng Văn S với Lê Văn Đ: Đ sử dụng số điện thoại 0964.461.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0385.073.xxx của Sáng để mua số lô, số đề, cụ thể: Ngày 30/01/2022, Đ mua số đề “85 hai cửa đặc biệt và giải nhất mỗi cửa 500.000 đồng (Sáng tính giá 80%); Lô 27, 72 mỗi số 100 điểm (giá 21.700 đồng/1 điểm lô); Xiên 3: 85-95-27 = 500.000 đồng (Sáng tính giá 73%)”. Kết quả không trúng. Tổng số tiền SĐ đánh bạc với nhau là 5.505.000 đồng. ĐS đã thanh toán cho nhau xong.
    • * Hoàng Văn S với Bùi Văn T2: T2 sử dụng số điện thoại 0395.925.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0385.073.xxx của Sáng để mua số lô, số đề, cụ thể: Ngày 17/6/2022, T2 mua số lô “09, 90 mỗi con 400 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền ST2 đánh bạc với nhau là 17.600.000 đồng. Sáng và T2 đã thanh toán cho nhau xong.
    • * Hoàng Văn S với Chu Văn H2: H2 sử dụng số điện thoại 0395.725.xxx đăng ký tài khoản zalo tên “H” nhắn tin vào số tài khoản zalo tên “Hoàng Sáng” đăng ký bằng số điện thoại 0385.073.xxx của Sáng để mua số lô, số đề, cụ thể:
      • - Ngày 25/02/2022, Hoàng Văn S nhắn tin cho Chu Văn H2 với nội dung “31500 +2300 - 4000 = 29800k”. Cơ quan điều tra không trích xuất, thu thập được cáp đề ngày 25/02/2022 của SH2. Tuy nhiên, quá trình điều tra SH2 đều xác nhận: Ngày 25/02/2022, H2 mua số lô, số đề của Sáng hết 2.300.000 đồng và trúng thưởng được 4.000.000 đồng. Do vậy, số tiền Sáng đánh bạc với H2 ngày 25/02/2022 là 6.300.000 đồng.
      • - Ngày 26/02/2022, Chu Văn H2 mua của Hoàng Văn S “số lô 26 = 100 điểm, 62 = 50 điểm” (giá 23.000 đồng/1 điểm lô). Đối chiếu với kết quả XSMB mở thưởng ngày 26/02/2022 thì Chu Văn H2 trúng thưởng số lô 26 = 100 điểm, tương ứng được lĩnh thưởng là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa SH2 là 11.450.000 đồng. Số tiền đánh bạc SH2 đã thanh toán cho nhau xong.
    • * Hoàng Văn S với Phạm Văn C2: C2 sử dụng số điện thoại 0822.342.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0385.073.xxx của Sáng để mua số lô, số đề, cụ thể: Ngày 01/11/2022, C2 mua của S “số lô 46=25 điểm, 64 = 25 điểm”. Kết quả, C2 trúng thưởng số lô 46 = 25 điểm, 64 = 25 điểm, tương ứng được lĩnh thưởng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của SC2 là 5.100.000 đồng. Sáng và C2 đã thanh toán cho nhau xong.
    • * Hoàng Văn S với Trắng Văn H1: Sáng sử dụng tài khoản zalo “Hoàng S” để nhắn tin với tài khoản zalo (hiển thị trên điện thoại của S là “H4 số Ra lo”) đăng ký số điện thoại 0949.918.xxx của H1 để mua số lô, số đề, cụ thể: Ngày 06/6/2023, Sáng mua các số lô, số đề của H1 “ Lô 86=25 điểm, 68 = 25 điểm, 47=10 điểm, 74 = 10 điểm, 39 = 20 điểm, 93=10 điểms, 66 = 10 điểm, 67 = 20 điểm (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Đặc biệt đầu 1, 4, 6 mỗi đầu số 50.000 đồng, 89, 84, 68 mỗi số 50.000 đồng”. Kết quả, Sáng trúng các số lô 86, 68, 47 tương ứng 60 điểm lô x 80.000 đồng = 4.800.000 đồng. Vậy, tổng số tiền SH1 đánh bạc với nhau là 7.960.000 đồng. Sáng và H1 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.
    • * Hoàng Văn S với người có tên zalo “Xi hoa”: Phát hiện trong dữ liệu điện thoại của Sáng có nội dung tin nhắn Z giữa S và tên Z “xi hoa” vào ngày 27/01/2022, nội dung người có tên Z “xi hoa” mua các số lô, số đề của Sáng “Lô 45, 54, 42, 65 = 10 điểm, 12, 21, 47, 74, 49, 94, 69, 96, 86, 35, 11, 16 = 5 điểm, 45, 54 = 10 điểm, 69, 41 = 50 điểm. Đề: 45, 54 = 50.000 đồng. Xiên 2: 41-93 = 200.000 đồng, xiên 3: 41-93-62 = 100.000 đồng ”. Sáng tính giá 21.700 đồng/1 điểm lộ, Đối chiếu với kết quả XSMB ngày 27/01/2022 thì người có tên Z “xi hoa” trúng lô: 65 = 10 điểm, 21, 47, 49, 94, 16 = 5 điểm, tương ứng 35 điểm. Tổng số tiền đánh bạc của S với người có tên Z “xi hoa” là 7.974.000 đồng. Sáng và người có tên zalo “Xi hoa” đã thanh toán cho nhau xong.
  7. Về hành vi đánh bạc của Trắng Văn H1
  8. Trắng Văn H1 sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo Y16, lắp sim số 0949.187.841 đăng ký tài khoản Zalo tên “Hhjkkk” và điện thoại Iphone 7, lắp sim số 0984.636.648 đăng ký tài khoản zalo “Trắng Văn H1”, tài khoản Facebook “Trắng Hòa” để nhắn tin mua, bán số lô, số đề, cụ thể:

    • * Trắng Văn H1 với Lương Hà B2: Bắc sử dụng điện thoại OPPO F7 đăng ký tài khoản Zalo tên “Gia Cát L3” bằng số điện thoại “0839.514.xxx” nhắn tin mua số lô số đề với tài khoản Zalo tên “Hhikkk” đăng ký bằng số điện thoại 0949.187.xxx của Trắng Văn H1, cụ thể: Ngày 06/6/2023, B2 mua các số lô của H1 như sau: “Lô 68, 86 mỗi số 1500 điểm; 94, 38, 28, 22, 20, 10 mỗi số 200 điểm; 01, 60, 88, 33 mỗi số 100 điểm; 35, 36, 87, 78 mỗi số 150 điểm” (giá 01 điểm lô là 21.800 đồng), trúng được lĩnh thưởng 80.000 đồng. Đối chiếu với kết quả XSMB ngày 06/6/2023, B2 trúng các số lô 68, 86, 22, 36, 20 tương đương 3.550 điểm lô x 80.000 đồng = 284.000.000 đồng. Vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa H1B2 là 397.360.000 đồng. H1B2 chưa thanh toán tiền đánh bạc cho nhau.
    • * Trắng Văn H1 với Từ Văn C4: Cảnh sử dụng số điện thoại 0961.045.xxx đăng ký tài khoản Zalo tên “Cảnh hấp” nhắn tin mua số lô số đề với tài khoản zalo tên “Trắng Văn H1” đăng ký bằng số điện thoại 0984.636.xxx của H1, cụ thể:
      • - Ngày 15/8/2022: Cảnh mua các số lô, số đề “Lô 92=50 điểm, 31=100 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Kết quả, C4 trúng thưởng số lô 31=100 điểm, tương ứng được lĩnh thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa C4H1 là 11.300.000 đồng. H1C4 đã thanh toán tiền đánh bạc cho nhau xong.
      • - Ngày 30/8/2022: Cảnh mua các số lô, số đề “Lô 80=100 điểm, 31 = 50 điểm” (giá 22.000 đồng/1 điểm lô). Kết quả, C4 trúng thưởng số lô 80=100 điểm, tương ứng được lĩnh thưởng 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa C4H1 là 11.300.000 đồng. H1C4 đã thanh toán tiền đánh bạc cho nhau xong.

    Ngoài ra, các đối tượng trên còn tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, cụ thể : Ngày 22/10/2022, L2 đánh bạc T với tổng số tiền là 2.500.000 đồng; Ngày 28/10/2022, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 500.000 đồng; Ngày 26/01/2023, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 100.000 đồng; Ngày 28/01/2023, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 100.000 đồng; Ngày 25/3/2023, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 200.000 đồng; Ngày 10/11/2022, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 1.100.000 đồng; Ngày 17/11/2022, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 1.100.000 đồng; Ngày 20/11/2022, L2 đánh bạc với T với tổng số tiền là: 300.000 đồng; Ngày 21/3/2023, L2 đánh bạc với H1 với tổng số tiền là: 740.000 đồng; Ngày 25/3/2023, L2 đánh bạc với H1 với tổng số tiền là: 200.000 đồng; Ngày 14/4/2023, L2 đánh bạc với H1 với tổng số tiền là: 200.000 đồng; Ngày 24/4/2023, L2 đánh bạc H1 với tổng số tiền là: 100.000 đồng; Ngày 25/4/2023, L2 đánh bạc với H1 với tổng số tiền là: 440.000 đồng; Ngày 29/4/2023, L2 đánh bạc với H1 với tổng số tiền là: 440.000 đồng; Ngày 19/3/2023, Lại đánh bạc với Trắng Văn P1, sinh năm 1982 trú trại thôn M, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang với tổng số tiền là: 860.000 đồng; T đánh bạc với Xổ Lý T4, sinh năm 1982 trú tại thôn B, xã V, huyện L vào các ngày 05/6/2023 là 4.040.000 đồng, ngày 06/6/2023 là 1.380.000 đồng; Ngày 05/6/2023: T đánh bạc với H1 với tổng số tiền là 4.050.000 đồng; Ngày 20/02/2022, S đánh bạc với H2 với tổng số tiền là 1.150.000 đồng; Ngày 21/02/2022, S đánh bạc với H2 với tổng số tiền là 2.600.000 đồng; Ngày 23/02/2022, S đánh bạc với H2 với tổng số tiền là 2.800.000 đồng; Ngày 24/02/2022, S đánh bạc với H2 với tổng số tiền là 2.300.000 đồng; Ngày 27/02/2022, Sáng đánh bạc Hà với tổng số tiền là 3.450.000 đồng; Ngày 15/5/2022, S đánh bạc với C2 với tổng số tiền là 3.100.000 đồng; Ngày 18/11/2021, S đánh bạc với H1 với tổng số tiền là 2.612.000 đồng; Sáng đánh bạc với người có tên zalo Manhtuan Nguyên V1...” vào ngày 09/3/2022 là 3.750.000 đồng, ngày 10/3/2022 là 2.300.000 đồng; Ngày 10/8/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 500.000 đồng; Ngày 11/8/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 200.000 đồng; Ngày 21/8/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 1.100.000 đồng; Ngày 22/8/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 2.200.000 đồng; Ngày 31/8/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 4.400.000 đồng; Ngày 18/9/2022: H1 đánh bạc với C4 với tổng số tiền là 3.300.000 đồng; Ngày 06/6/2023, H1 đánh bạc với Lê Văn H5, sinh năm 1992 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L với tổng số tiền là 190.000 đồng; Ngày 06/6/2023, H1 đánh bạc với Lưu Văn G, sinh năm 1974 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L với tổng số tiền là 100.000 đồng; H1 đánh bạc với Hoàng Văn D3, sinh năm 1984, trú tại thôn M, xã V, huyện L vào ngày 06/6/2023 với tổng số tiền là 240.000 đồng, ngày 06/6/2023 với tổng số tiền là 250.000 đồng; Ngày 06/6/2023: H1 đánh bạc với Trương Văn Q, sinh năm 1982 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L với tổng số tiền là 1.530.000 đồng; Ngày 06/6/2023, H1 đánh bạc với Hoàng Thị N1, sinh năm 1981 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L với tổng số tiền là 4.420.000 đồng.

Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, số IMEI1: 860146042480419, EMEI2: 860146042480401, lắp sim 0967.053.613 của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VivoY16, màu vàng, số EMEI1: 865717060435347, EMEI2: 865717060435354, lắp sim 0949.187.841; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, số EMEI: 353071097914034, lắp sim 0984.636.648 của Trắng Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPOF7, số EMEI1: 868473037718293, EMEI2: 868473037718285, lắp sim 1: 0762.070.987; sim số 2: 0945.295.420 của Lương Hà B2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, EMEI 1: 358860082530788, EMEI2: 358861082530789, lắp sim số 0967.949.878 của Diệp Văn T3; 01 điện thoại nhãn hiệu VivoV2026, vỏ màu đen, số EMEI: 861177057721890, lắp sim số 0385.073.395 của Hoàng Văn S; 01 điện thoại Nokia màu xanh, lắp sim 0961.045.962 của Từ Văn C4 sử dụng nhắn tin mua số lô, số đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2, màu xanh, số EMEI1: 861599040935859, EMEI2: 861599040935842; 01 thẻ ngân hàng M1 mang tên Trắng Văn H1; Số tiền 89.000.000 đồng của Trắng Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bị vỡ màn hình, không lên nguồn của Từ Văn C4; số tiền 10.000.000 đồng của Hoàng Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh, số EMEI: 353918105525626 của Lương Hà B2; 01 điện thoại Nokia, màu đen của Lê Văn Đ, chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Trắng Văn Hòa, Lương Hà Bắc về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; các bị cáo Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn L2, Từ V, Chu Văn H2, Bùi Văn T2, Diệp Văn T3, Lê Văn Đ, Phạm Văn C2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trắng Văn H1 03 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam từ 07/06/2023 đến 22/09/2023.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam từ 06/06/2023 đến 14/06/2023. Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn S 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Chu Văn H2 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bị cáo Chu Văn H2 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 07 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong:

Ngày 17/5/2024 bị cáo Chu Văn H2, ngày 23/5/2024 các bị cáo Trắng Văn H1, Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T đều có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đều trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là có đúng người, đúng tội, không oan sai.

Bị cáo H1 trình bày: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã tự nguyện nộp trước số tiền 50.000.000 đồng tiền truy thu của bản án sơ thẩm; bị cáo đã ủng hộ nhân dân bị thiệt hại do cơn bão số 3 với số tiền 2.000.000 đồng, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, về số tiền truy thu bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Bị cáo H2 trình bày: bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm nghẹ hình phạt, chỉ đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 12.000.000 đồng tiền truy thu và 200.000 đồng án phí của bản án sơ thẩm, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng do cơn bão số 3 tại xã V được Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã V xác nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo T trình bày: bị cáo xin rút nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo chỉ xin hưởng án treo. Bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền 28.190.000 đồng tiền phạt bổ sung, tiền truy thu và án phí của bản án sơ thẩm; bị cáo có giấy xác nhận của Uỷ ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xã V về việc ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng do cơ bão số 3 tại xã V số tiền 1.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo S trình bày: bị cáo xin rút nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng do cơn bão số 3 tại xã V số tiền 1.000.000đồng, bị cáo đã nộp lại số tiền 27.489.000đồng là tiền truy thu của bản án sơ thẩm, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trắng Văn H1.
  • Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S. Sửa bản án sơ thẩm, xử:
    1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    2. Xử phạt: Bị cáo Trắng Văn H1 03 năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam từ 07/06/2023 đến 22/09/2023.

    3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    4. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp xong tiền phạt bổ sung và tiền truy thu của bản án sơ thẩm.

    5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    6. Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn S 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    7. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
    8. Xử phạt: bị cáo Chu Văn H2 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bị cáo Chu Văn H2 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp xong tiền phạt bổ sung của bản án sơ thẩm.

  • Giao bị cáo T, bị cáo S, bị cáo H2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Các bị cáo không có tranh luận gì.
  • Bị cáo Trắng Văn H1 nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị cáo Chu Văn H2 nói lời sau cùng: đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
  • Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
  • Bị cáo Hoàng Văn S nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trắng Văn H1, Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

[2] Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2021 đến ngày 06/6/2023, các bị cáo Trắng Văn H1, Lương Hà B2, Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn L2, Từ V, Chu Văn H2, Bùi Văn T2, Diệp Văn T3, Lê Văn Đ, Phạm Văn C2 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau nhằm thu lợi bất chính, cụ thể: Tổng số tiền bị cáo Trắng Văn H1 đánh bạc trong các ngày 15, 30/8/2022 và ngày 06/6/2023 là 419.740.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Lương Hà B2 đánh bạc ngày 06/6/2023 là 397.360.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Hoàng Văn S đánh bạc trong các ngày 27, 30/01/2022; ngày 25, 26/02/2022; ngày 17/6/2022 và ngày 01/11/2022 là 53.929.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn T đánh bạc trong các ngày ngày 23, 24, 25, 26/10/2022 và ngày 06/6/2023 là 42.580.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Hoàng Văn L2 đánh bạc trong các ngày 23, 24, 25 và 26/10/2022 là 34.100.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Từ Văn C4 đánh bạc trong các ngày 15 và 30/8/2022 là 22.600.000 đồng. Tổng số tiền Chu Văn H2 đánh bạc trong các ngày 25 và 26/02/2022 là 17.750.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Bùi Văn T2 đánh bạc ngày 17/6/2022 là 17.600.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Diệp Văn T3 đánh bạc ngày 06/6/2023 là 7.100.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Lê Văn Đ đánh bạc ngày 30/01/2022 là 5.505.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Phạm Văn C2 đánh bạc ngày 01/11/2022 là 5.100.000 đồng.

Án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của các bị cáo, đánh giá toàn bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Trắng Văn H1 03 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo Hoàng Văn S 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo Nguyễn Văn T 08 tháng tù về tội “ Đánh bạc” và bị cáo Chu Văn H2 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S xin rút nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung này.

Quá trình giải quyết vụ án bị cáo Trắng Văn H1 có đơn đề nghị xem xét lại tiền truy thu cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo xin rút nội dung này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.1]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ngoài ra còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc đánh bạc dưới mọi hình thức được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hám lời và coi thường pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện.

[3.2]. Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, không có sự phần công, tổ chức rõ ràng. Các bị cáo đánh bạc qua mạng xã hội nên có những bị cáo đồng phạm với nhau, có những bị cáo không đồng phạm nhau, cụ thể:

- Bị cáo Trắng Văn H1 đánh bạc nhiều ngày với nhiều bị cáo khác nhau như đánh bạc với các bị cáo Lương Hà B2, Từ Văn C4, Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Trắng Văn H1 lớn nhất nên bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án.

- Các bị cáo Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T đánh bạc nhiều ngày với nhiều bị cáo khác. Bị cáo bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

- Bị cáo Chu Văn H2 có nhiều lần đánh bạc. Tổng số tiền bị cáo đánh bạc không lớn nên bị cáo giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

[3.3]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Các bị cáo Trắng Văn H1, Hoàng Văn S, Chu Văn H2Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc đều từ hai lần trở lên, nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt.

- Các bị cáo Trắng Văn H1, Hoàng Văn S, Nguyễn Văn T, Chu Văn H2 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Trắng Văn H1 có bố đẻ là ông Trắng Nhịp P (tứcTrắng K) được Bộ Quyết định trợ cấp một lần đối với quân nhân tham gia kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; bố vợ bị cáo là ông Từ Văn H6 được Chính ủy Quân khu trợ cấp một lần đối với người tham chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Văn T có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị L1 năm 2012 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn L (nay là thị trấn Đ) tặng Giấy khen vì đã đã có thành tích xuất sắc trong công tác Hội người cao tuổi, Hội thanh niên xung phong huyện L tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào hoạt động của hội; năm 2013 được Hội người cao tuổi tỉnh Bắc Giang công nhận đạt danh hiệu “Tuổi cao- gương sáng xuất sắc”, được Ủy ban mặt trận tổ quốc thị trấn L tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; năm 2014 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn L tặng Giấy khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hội người cao tuổi tổ dân phố; năm 2017 được Ban chấp hành hội người cao tuổi huyện L tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác hội người cao tuổi; năm 2018 được Hội người cao tuổi tỉnh Bắc Giang tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác Hội người cao tuổi giai đoạn 2013- 2018; năm 2022 được Hội người cao tuổi Việt Nam tặng Kỷ niệm chương vì đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Việt Nam; năm 1992 bà nội bị cáo là bà Nguyễn Thị T6 được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) công nhận là gia đình cách mạng gương mẫu nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thương binh liệt sỹ 27/07/1947- 27/07/1992.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo nộp thêm các tài liệu, chứng cứ mới gồm:

- Bị cáo H1 xuất trình biên lai nộp 50.000.000 đồng tiền truy thu của bản án sơ thẩm, xác nhận của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã V về việc ủng hộ cơn bão số 3 tại xã V 2.000.000 đồng; ủng hộ quỹ vì người nghèo 2.000.000 đồng, bị cáo có bố đẻ là ông Trắng Khì T7 (tức Trắng Nhịp P) được tặng Kỷ niệm chương của Hội Người cao tuổi Việt Nam. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét cho bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp lại toàn bộ số tiền 28.190.000 đồng tiền phạt bổ sung, tiền truy thu và án phí của bản án sơ thẩm; bị cáo có giấy xác nhận của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã V về việc ủng hộ quỹ vì người nghèo số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng do cơ bão số 3 tại xã V. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Chu Văn H2 đã nộp tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng, tiền truy thu 12.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí theo bản án sơ thẩm; bị cáo có xác nhận của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã V về việc ủng hộ quỹ vì người nghèo, ủng hộ đồng bào bão lụt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, không phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Hoàng Văn S ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng do cơn bão số 3 tại xã V số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ quỹ vì người nghèo 1.000.000 đồng; bị cáo đã nộp lại số tiền 27.489.000 đồng là tiền truy thu của bản án sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo Trắng Văn H1 phạm tội nhiều lần thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị H1.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Chu Văn H2, Hoàng Văn S: xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo S là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, các bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trắng Văn H1.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S.

Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ nội dung tin nhắn giữa bị cáo Trắng Văn H1 đến tài khoản tên Z “L4” và đối tượng Nguyễn Đình B3 để làm rõ hành vi đánh bạc của H1 và đối tượng trên.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do kháng cáo của các bị cáo Trắng Văn H1, Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Trắng Văn H1.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Chu Văn H2, Nguyễn Văn THoàng Văn S, sửa bản án sơ thẩm, xử:

1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trắng Văn H1 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ số ngày tạm giữ, tạm giam từ 07/06/2023 đến 22/09/2023.

Xác nhận tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) theo Biên lai số 0003204 ngày 25/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

1. 2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T5) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Xác nhận tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp số tiền 28.190.000 đồng (Hai mươi tám triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) theo Biên lai số 0003189 ngày 23/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn S 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xác nhận tại cấp phúc thẩm bị cáo S đã nộp số tiền 27.489.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu bốn trăm tám chin nghìn đồng) theo Biên lai số 0003197 ngày 20/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

1.4. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Chu Văn H2 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bị cáo Chu Văn H2 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Xác nhận bị cáo H2 đã nộp số tiền 22.200.000 đồng theo biên lai số 0003196 ngày 20/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Giao bị cáo T, bị cáo S, bị cáo H2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội:

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-PT ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 197/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Trắng Văn H1, sinh năm 1980 tại xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: thôn M, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trắng Nhịp P và bà Nghiêm Thị N; có vợ: Từ Thị D, sinh năm 1983; có 02 con: con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 đến 22/9/2023. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger