Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2024/DS-PT

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

V/v tranh chấp chia di sản

thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm;

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu;

Bà Trịnh Ngọc Thúy;

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà:

Bà Lương Thị Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 219/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 128/2024/QĐXXPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số A, đường Y, tổ B, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Đại diện hợp pháp của bà T: Ông Trần Thanh N, sinh năm 1949; địa chỉ: số A lầu A, đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (theo hợp đồng ủy quyền số 207 ngày 16/04/2019) (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1959; địa chỉ: A, đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Võ Thị C1, sinh năm 1924 (đã chết)

      Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Võ Thị C1:

      • Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số A, đường Y, tổ B, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
      • Ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1959; địa chỉ: A, đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
      • Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1961; địa chỉ: số A đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
      • Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1965; địa chỉ: số A đường Y, tổ B, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; địa chỉ: số C đường D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);

      Đại diện hợp pháp của bà B: Ông Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), sinh năm 1974; địa chỉ: số C đường D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền được công chứng ngày 08/12/2021 tại Văn phòng C3) (có mặt);

    3. Bà Huỳnh Thị Thúy N3, sinh năm 1973; địa chỉ: số D, khóm T, phường M, thành phố L, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    4. Ông Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), sinh năm 1974; địa chỉ: số C đường D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    5. Ông Huỳnh Hữu N4, sinh năm 1982; địa chỉ: số C đường D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    6. Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1961; địa chỉ: số A đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    7. Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1965; địa chỉ: số A đường Y, tổ B, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
    8. Bà Trần Thị L, sinh năm 1951 (đã chết);

      Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị L:

      • Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981 (có mặt);
      • Bà Huỳnh Thị Ngọc N5, sinh năm 1984 (có mặt);

      Cùng địa chỉ: số A đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

      • Bà Huỳnh Thị Ngọc H2, sinh năm 1988; địa chỉ: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
      • Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1993 (tên gọi khác Huỳnh Trần Ngọc T3); địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên lạc: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
    9. Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981 (có mặt);
    10. Bà Huỳnh Thị Ngọc N5, sinh năm 1984 (có mặt);

    Cùng địa chỉ: số A đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

    1. Bà Huỳnh Thị Ngọc H2, sinh năm 1988 (vắng mặt);

      Địa chỉ: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

    2. Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1993 (tên gọi khác Huỳnh Trần Ngọc T3); địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên lạc: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
    3. Trần Thị Ngọc B1, sinh năm 2011;

      Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981 (có mặt);

    4. Huỳnh Đức T4, sinh năm 2021;

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1961 (có mặt);

      Cùng địa chỉ: số A đường V, tổ E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

    5. Bà Lê Thị Lệ E, sinh năm 1960 (vắng mặt);
    6. Bà Huỳnh Thị T5, sinh năm 1981 (vắng mặt);
    7. Ông Nguyễn Văn T6, sinh 1981 (vắng mặt);
    8. Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1978 (vắng mặt);
    9. Huỳnh Thành P1, sinh năm 2003 (xin vắng);
    10. Nguyễn Huỳnh Kim Y, sinh năm 2005 (vắng mặt);
    11. Võ Minh N6, sinh năm 2011 (do bà Huỳnh Thị T5 đại diện theo pháp luật);
    12. Bà Huỳnh Thị C2, sinh năm 1986 (vắng mặt);
    13. Nguyễn Huỳnh Tấn V, sinh năm 2012 (do bà Huỳnh Thị C2 đại diện theo pháp luật);
    14. Võ Minh Q, sinh năm 2013 (do bà Huỳnh Thị T5 đại diện theo pháp luật);

    Cùng địa chỉ: A đường V, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang;

  5. Người kháng cáo:
    • Bà Huỳnh Ngọc T là nguyên đơn (có mặt);
    • Ông Huỳnh Hữu T1, bà Huỳnh Ngọc H, bà Huỳnh Thị Thúy N3, ông Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), ông Huỳnh Hữu N4, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc N5 là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T có ông Trần Thanh N đại diện theo ủy quyền trình bày:

Cha mẹ là ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1918 và bà Võ Thị C1, sinh năm 1924 có bảy người con gồm:

  1. Ông Huỳnh Hữu P2, sinh năm 1951, chết 2017 (không vợ, con);
  2. Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1953;
  3. Ông Huỳnh Hữu N7, sinh năm 1954, chết 2013;
  4. Ông Huỳnh Hữu B2, sinh năm 1956, chết 2016;
  5. Ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1959;
  6. Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1960;
  7. Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1965.

Ngoài các con chung nêu trên, ông Đ và bà C1 không có con chung, riêng nào khác. Ông Huỳnh Văn Đ chết năm 1985 bà Võ Thị C1 chết ngày 09/9/2021 (theo giấy trích lục khai tử số 778/TLKT-BS ngày 06/10/2021 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp).

Khi cha mẹ còn sống có tạo lập tài sản là phần diện tích nhà, đất 708m² tọa lạc tại địa chỉ phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA, ngày 24/12/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp mang tên bà Võ Thị C1 (đại diện). Sau khi ông Đ qua đời không để lại di chúc cho các con nên các anh em trong gia đình tự quản lý sử dụng đất.

Trên đất có căn nhà do cha mẹ để lại, hiện nay gia đình của ông Huỳnh Hữu B2 và vợ là bà Trần Thị L quản lý sử dụng, khi ông B2 và bà L chết để lại cho con là bà H1 ở. Trên đất còn có căn nhà gỗ nằm trong phần diện tích đất 708m² do bà H1 quản lý, sử dụng.

Không đồng ý việc vợ con ông B2 và bà L sử dụng đất của cha mẹ để lại nên các anh em trong gia đình có họp bàn bạc thống nhất phân chia phần diện tích đất của ông Đ để lại làm 7 phần, theo biên bản họp gia đình ngày 03/04/2019, ý kiến họp gia đình ngày 09/10/2014. Sau khi bàn bạc thống nhất các anh em tiến hành đo đạc thực tế nhằm phân chia nhưng ông Huỳnh Hữu C tranh cản, không tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền phân chia phần diện tích nhà đất.

Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật đối với phần diện tích đất 354 m²/708m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA, ngày 24/12/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp mang tên bà Võ Thị C1 (đại diện), đất tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Bà T yêu cầu nhận một kỷ phần tài sản thừa kế, yêu cầu nhận bằng hiện vật là phần diện tích đất được phân chia theo quy định pháp luật.

Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết, bà Võ Thị C1 đã chết năm 2021, bà C1 có lập di chúc được Phòng C4 tỉnh An Giang chứng nhận. Do đó, bà T đã gửi đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bà Võ Thị C1 là 354m² nằm trong 708m² đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA, ngày 24/12/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho bà Võ Thị C1 (đại diện). Theo di chúc ngày 22/04/2019 do bà Võ Thị C1 lập, bà T yêu cầu được hưởng ½ phần di sản nêu trên và ½ kỷ phần thừa kế mà bà Võ Thị C1 được hưởng từ di sản của chồng là ông Huỳnh Văn Đ (chết ngày 05/09/1985) và con là ông Huỳnh Hữu P2 (chết ngày 14/01/2017).

Theo yêu cầu đo đạc định giá của bà T, Tòa án kết hợp cùng các cơ quan chức năng, Công ty TNHH Đ1 (viết tắt C5) tiến hành đo đạc xác định diện tích đất tranh chấp. Thể hiện tại các bản vẽ trong đó có bản vẽ đề ngày 06/09/2022 xác định diện tích của các phần diện tích đất tranh chấp, tại các điểm 29, 30, 3, 2, 28, 24 có diện tích 200m²; các điểm 1, 7, 6, 5, 4, 30, 29, 24, 28 có diện tích 507m² (theo Công văn số 51/2022/CV ngày 25/11/2022 của Công ty Đ1 xác định lại diện tích là 508m²). Bà T thống nhất nội dung bản vẽ, không có ý kiến tranh chấp, không yêu cầu Tòa án cùng các cơ quan, công ty đo đạc lại, đo đạc bổ sung. Yêu cầu Tòa án căn cứ bản vẽ lập ngày 06/09/2022 của Công ty Đ1 để xét xử theo quy định pháp luật.

- Bị đơn ông Huỳnh Hữu C trình bày: Về quan hệ nhân thân: Thống nhất với ý kiến trình bày của bà Huỳnh Ngọc T về quan hệ nhân thân, cha mẹ và các anh chị em ruột, các con cháu trong gia đình.

Về di sản thừa kế do cha mẹ để lại: Sau khi cha mẹ qua đời có để lại một phần diện tích đất 708m² và một căn nhà sàn gỗ, mái tole, nhà đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA, ngày 24/12/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp mang tên bà Võ Thị C1, nhà đất tọa lạc tại, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Hiện nay, di sản của cha mẹ để lại chưa được phân chia cho các anh em trong gia đình nên các anh em, con cháu được quyền quản lý sử dụng di sản chung. Do đó, phía bà T khởi kiện yêu cầu phân chia theo di chúc là không hợp pháp, tài sản của cha mẹ để lại phải chia đều cho các anh em trong gia đình mỗi người một phần thừa hưởng.

Riêng ông Huỳnh Hữu T1 đã được cha mẹ cho thừa hưởng một phần di sản thừa kế của ông Huỳnh Văn Đ đã chết để lại. Theo quyết định thi hành án phạt tù số 232/THA ngày 01/9/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đối với ông Huỳnh Hữu T1 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân. Trong quá trình thi hành án, Phòng thi hành án tỉnh An Giang bán đấu giá tài sản là căn nhà có diện tích 78,43m² nằm trên phần diện tích 261,3m² theo Thông báo số 343/TB.THA ngày 06/8/1999 với giá 74.850.000đ. Việc thi hành án trên là để trả nợ do ông T1, thủ tục thi hành án vào ngày 08/9/1997 do ông Huỳnh Hữu P2 là anh đứng ra thực hiện thi hành số tiền nợ của ông T1. Sau khi thực hiện thi hành án xong, cơ quan thi hành án đã ra quyết định giao trả phần diện tích đất 78,43m² cho gia đình bà C1, ông Đ. Qua sự việc thi hành án đã cho thấy ông T1 đã được hưởng một phần di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Do đó, không đồng ý chia một kỷ phần thừa kế của ông Đ để lại cho ông T1, di sản thừa kế để lại chia theo quy định pháp luật, trừ phần thừa kế của ông T1.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Huỳnh Hữu T1 trình bày: Thống nhất với bà T, ông C về quan hệ nhân thân trong gia đình, không phát sinh đương sự khác. Thống nhất về tài sản chung của cha mẹ để lại chưa phân chia cho các anh em trong gia đình. Hiện nay, bà Võ Thị C1 có lập di chúc để lại di sản thừa kế cho ông T1 và bà T cùng đứng tên quản lý sử dụng, nên đồng ý nhận di sản theo di chúc, sau khi phân chia theo di chúc sẽ phân chia theo quy định pháp luật đối với tài sản còn lại. Ông T1 không đồng ý toàn bộ lời trình bày, yêu cầu của ông C.
  • Bà Huỳnh Ngọc H: Thống nhất toàn bộ nội dung trình bày của nguyên đơn về quan hệ nhân thân và tài sản. Tuy nhiên tất cả các anh em và bà C1 cùng xác định phân chia di sản ra làm 7 phần theo biên bản họp gia đình vào năm 2019. Không đồng ý di sản của cha mẹ để lại cho bà T và ông T1 theo di chúc.
  • Bà Huỳnh Thị Thúy N3; ông Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2); ông Huỳnh Hữu N4; bà Huỳnh Thị Ngọc N5: Thống nhất toàn bộ nội dung ý kiến của bà H.

Các đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại chưa có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 219/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Ngọc T yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1918 - chết năm 1985 và bà Võ Thị C1, sinh năm 1924 - chết năm 2021.
  2. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Văn Đ và bà Võ Thị C1 gồm: Ông Huỳnh Hữu P2, sinh năm 1951- chết 2017 (không vợ, con); Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1953; Ông Huỳnh Hữu N7, sinh năm 1954 chết 2013 (có vợ con là: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; Ông Huỳnh Hiếu N1, sinh năm 1974. Bà Huỳnh Thị Thúy N3, sinh năm 1973; Ông Huỳnh Hiếu N1, sinh năm 1974 (Ông Huỳnh Hiếu N1); Ông Huỳnh Hữu N4, sinh năm 1982; Ông Huỳnh Hữu B2, sinh năm 1956 chết 2016 (có vợ con là Bà Trần Thị L, sinh năm 1951-2021; Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị L: Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981; Bà Huỳnh Thị Ngọc N5, sinh năm 1984; Bà Huỳnh Thị Ngọc H2, sinh năm 1988; Bà Huỳnh Thị Ngọc T2, sinh năm 1993 (tên gọi khác Huỳnh Trần Ngọc T3); Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981; Ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1959; Ông Huỳnh Hữu T1 sinh năm 1960; Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1965.
  3. Xác định giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 708m², trong đó 200m² đất ODT; 508m² đất CLN được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 06/09/2022 là di sản thừa kế của ông Huỳnh Văn Đ và bà Võ Thị C1. Giá trị di sản thừa kế là phần đất tổng cộng 620.264.000₫ (sáu trăm hai mươi triệu, hai trăm, sáu mươi bốn ngàn đồng). Trong đó, các ông bà lần lượt nhận số tiền cụ thể như sau:
    1. Bà Huỳnh Ngọc H nhận số tiền 36.564.946đ;
    2. Bà Nguyễn Thị B nhận 6.891.822đ;
    3. Bà Huỳnh Thị Thúy N3 nhận số tiền 7.593.767đ;
    4. Ông Huỳnh Hiếu N1 nhận số tiền 7.593.767đ;
    5. Ông Huỳnh Hữu N4 nhận số tiền 7.593.767đ.
    6. Bà Huỳnh Thị Ngọc H1 nhận số tiền 14.884.421đ;
    7. Bà Huỳnh Thị Ngọc N5 nhận số tiền 14.884.421đ;
    8. Bà Huỳnh Thị Ngọc T2 nhận số tiền 6.269.644đ;
    9. Bà Huỳnh Thị Ngọc H2 nhận số tiền 6.269.644₫.
  4. Giao cho bà Huỳnh Ngọc T và ông Huỳnh Hữu T1 cùng quản lý, sử dụng phần diện tích 508m², được giới hạn bởi các điểm: 1, 7, 6, 5, 4, 30, 29, 24, 28. Trên đất có các căn nhà: Căn nhà số 1 được xây dựng với cấu trúc: Sàn ván, nền láng xi măng, khung gỗ vuông, vách tole + lá, mái tole, với diện tích sử dụng 56,8m² được giới hạn bởi các điểm: 12; 13; 14; 15. Căn nhà số B được xây dựng với cấu trúc mái che gắn liền với nhà ở: Nền gạch bông + láng xi măng, khung cột tre + bạch đàn, vách tole, mái tole, với diện tích sử dụng bằng 27,0m², được giới hạn bởi các điểm: 14; 15; 16; 17. Kèm theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 06/09/2022.
  5. Bà Huỳnh Ngọc T và ông Huỳnh Hữu T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại số 67.193.541đ cho các hàng thừa kế gồm: ông Huỳnh Hữu C, bà Huỳnh Ngọc H, Bà Nguyễn Thị B, bà Huỳnh Thị Thúy N3, ông Huỳnh Hiếu N1, ông Huỳnh Hữu N4, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc N5, bà Huỳnh Thị Ngọc H2, bà Huỳnh Thị Ngọc T2.
  6. Giao cho ông Huỳnh Hữu C được quản lý, sử dụng diện tích 200m2, được giới hạn bởi các điểm 29, 30, 3, 2, 28, 24. Trên đất có căn nhà của ông C được xây dựng với kết cấu: Sàn ván, khung gỗ vuông, vách tole, mái tole; diện tích sử dụng 65m², được giới hạn bởi các điểm: 18; 19; 20; 21; 22 và mái che được xây dựng với kết cấu: Nền gạch khía + dal, khung gỗ vuông, vách tole, mái tole; diện tích sử dụng 51,2m² loại đất ODT. Trong đó, phần diện tích mái che bằng 3,99m², được giới hạn bởi các điểm: 21; 22; 23; 24; 25; 26 nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA, ngày 24/12/2007, phần diện tích đủ cơ sở để xác định giá trị là 51,2m² - 3,99m² = 47,21m²; kèm theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 06/09/2022.
  7. Ông Huỳnh Hữu C có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại số 273.185.899₫ cho các hàng thừa kế gồm: bà Huỳnh Ngọc T, ông Huỳnh Hữu T1, bà Huỳnh Ngọc H, Bà Nguyễn Thị B, bà Huỳnh Thị Thúy N3, ông Huỳnh Hiếu N1, ông Huỳnh Hữu N4, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc N5, bà Huỳnh Thị Ngọc H2, bà Huỳnh Thị Ngọc T2.
  8. Bà Huỳnh Ngọc T, ông Huỳnh Hữu T1, ông Huỳnh Hữu C có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định.

(Kèm theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 06/09/2022, công văn số 51/2022/CV ngày 25/11/2022 của Công ty TNHH ĐI - BL756)

  1. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 19/9/2023, các ông bà Huỳnh Ngọc H, Huỳnh Thị Thúy N3; Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), Huỳnh Hữu N4, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc N5 kháng cáo toàn bộ bản án;

Ngày 15/9/2023 và 19/9/2023, bà Huỳnh Ngọc T, ông Huỳnh Hữu T1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đ, bà C1 bằng hiện vật, yêu cầu được chia theo di chúc của bà Võ Thị C1.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Nguyên đơn bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, chấp nhận chia toàn bộ di sản của ông Đ, bà C1 theo pháp luật và chia đều cho các thừa kế bằng hiện vật, bà T đồng ý nhận 100 m² đất.
  • Bị đơn ông C yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đ theo pháp luật, chia di sản thừa kế của bà C1 theo di chúc, phương thức chia bằng hiện vật.
    • Các ông bà H, N3, N2, N4, H1, N5 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu chia di sản theo pháp luật và chia bằng hiện vật.

Tất cả các đương sự thống nhất trình bày, ông Huỳnh Hữu P2 chết có vợ, con, trong đó có những người có tên là: Hèm, Bé H3, B, H4; ông Huỳnh Hữu B2 ngoài có các con là H1, N5, H2, T2 thì còn có người con khác tên là H5. Do không biết chính xác họ tên và không có giấy khai sinh nên không trình bày tại cấp sơ thẩm.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung, do tạo phiên tòa phúc thẩm, các đương sự khai có thêm những người thuộc hàng thừa kế của ông Huỳnh Hữu P2 và ông Huỳnh Hữu B2 mà cấp sơ thẩm chưa làm rõ để đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Bà Huỳnh Ngọc T, ông Huỳnh Hữu T1, bà Huỳnh Ngọc H, Huỳnh Thị Thúy N3, Huỳnh Hiếu N1, Huỳnh Hữu N4, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc N5 kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

    Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị Ngọc H2, Huỳnh Thị Ngọc T2, Lê Thị Lệ E, Huỳnh Thị T5, Nguyễn Văn T6, Huỳnh Thị P, Huỳnh Thành P1, Nguyễn Huỳnh Kim Y, Huỳnh Thị C2 vắng mặt tại phiên tòa, có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.

  2. Về nội dung:

    Nguyên đơn bà T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cha mẹ là cụ Huỳnh Văn Đ và cụ Võ Thị C1 để lại, kể từ ngày mở thừa kế đến thời điểm bà T nộp đơn khởi kiện ngày 31/10/2019 thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế vẫn còn theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015

    1. Về di sản:

      Căn cứ lời trình bày của các đương sự, xác định di sản thừa kế của cụ Đ và cụ C1 là diện tích đất 708m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA ngày 24/12/2007 do cụ Võ Thị C1 đại diện đứng tên, trên đất có căn nhà do cụ Đ và cụ C1 xây dựng. Ngoài ra, trên đất có căn nhà, phần mái che của ông Huỳnh Hữu C, căn nhà của ông Huỳnh Hữu B2, bà Trần Thị L. Các đương sự chỉ tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Đ và cụ C1 là diện tích đất 708m². Không yêu cầu phân chia đối với căn nhà của cụ Đ và cụ C1 có trên đất.

    2. Về hàng thừa kế của cụ Đ và cụ C1:

      Các đương sự khai thống nhất, cụ Đ và cụ C1 có 7 người con gồm:

      1. Ông Huỳnh Hữu P2, sinh năm 1951, chết 2017;
      2. Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1953;
      3. Ông Huỳnh Hữu N7, sinh năm 1954, chết 2013;
      4. Ông Huỳnh Hữu B2, sinh năm 1956, chết 2016;
      5. Ông Huỳnh Hữu C, sinh năm 1959;
      6. Ông Huỳnh Hữu T1, sinh năm 1960;
      7. Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1965.

      Ngoài các con chung nêu trên, ông Đ và bà C1 không có con chung, riêng nào khác.

      Tại cấp sơ thẩm các đương sự khai:

      • Ông Huỳnh Hữu P2 chết năm 2017, không có vợ con;
      • Ông Huỳnh Hữu N7 chết năm 2013 có vợ là Nguyễn Thị B và các con là: Hiếu Nghĩa, Thúy N3, Hữu N4;
      • Ông Huỳnh Hữu B2 chết năm 2016, có vợ là Trần Thị L (chết năm 2021) có các con gồm: Ngọc H1, Ngọc N5, Ngọc H2, Ngọc T2.

      Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/5/2024, Bà T, ông C có lời khai xác định ông P2 (chết năm 2017) có vợ và con. Trong đó, ông P2 chung sống với bà D có 01 con tên là Nguyễn Văn H6. Tòa án cấp phúc thẩm đã thu thập chứng cứ, lấy lời khai của ông Nguyễn Văn H6. Tại Biên bản ngày 15/5/2024, ông H6 khai là con của ông P2 và bà Nguyễn Thị D1 (đã chết), ngoài ra theo ông H6 được biết ông P2 còn có 2- 3 người con khác.

      Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2024, ông Huỳnh Hữu Công k ngoài ông H6 là con chung của ông P2 và bà D1 thì ông P2 còn có 03 người con khác gồm: Bé H3, Bé B3 (con chung của ông P2 với bà S); H4 (con của ông P2 với người vợ đầu tiên). Ông B2 còn có người con khác tên H5 (con của ông B2 với bà P3).

      Lời khai của ông C phù hợp với lời khai của bà T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phúc thẩm xác định ông P2 chết năm 2017 có vợ và con, trong đó có Nguyễn Văn H6 (đã được Tòa án cấp phúc thẩm lấy lời khai) và những người khác gồm Bé H3, Bé B4, H4. Ngoài ra, ông B2 còn có một người con khác tên H5.

      Xét thấy, cấp sơ thẩm chưa xác định đầy đủ những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Huỳnh Hữu P2 và Huỳnh Hữu B2 để đưa vào tham gia tố tụng giải quyết việc phân chia di sản thừa kế là có thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, việc vi phạm thủ tục tố tụng không có lỗi của cấp sơ thẩm do các được sự trình bày không đầy đủ. Do không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm nên cần chấp nhận kháng cáo của bà H, bà N3, ông N1, ông N4, bà H1, bà N5, hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tại phiên tòa.

    3. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần thu thập chứng cứ, làm rõ một số vấn đề sau:
      • Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/8/2024, trên diện tích đất 708m² là di sản thừa kế (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Công ty TNHH Đ1 ngày 06/9/2022) có nhà 1 (diện tích 56,8 m²), nhà 2 (diện tích 27 m²) hiện do Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc N5 (con ông B2, bà L) đang quản lý, sử dụng cùng với những người trong gia đình gồm: Trần Văn H7, Trần Thị Ngọc B1 (chồng và con bà H1); Bùi Phước L1, Bùi Ngọc Thủy T7, Bùi Ngọc Gia B5 (chồng và con bà N5); phía trước nhà 1 (tiếp giáp đường V) có phần mái che (khung cây tạp, mái tole, nền tráng xi măng) chưa xác định diện tích, chưa được thể hiện trong bản trích đo hiện trạng ngày 06/9/2022, hiện do bà H1 và bà N5 quản lý, sử dụng. Mặc dù các đương sự không tranh chấp chia di sản là nhà. Tuy nhiên, căn nhà của cụ Đ, cụ C1 hiện do bà H1, bà N5 và những người trong gia đình quản lý, sử dụng, trên đất còn tồn tại vật kiến trúc khác. Cấp sơ thẩm cần ghi nhận ý kiến của các đương sự về tài sản, vật kiến trúc có trên đất trước khi phân chia, giao đất nhằm giải quyết triệt để vụ án.
      • Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.04189mA ngày 24/12/2007 do cụ Võ Thị C1 đại diện đứng tên kèm theo hồ sơ kỹ thuật khu đất xác định trong diện tích 708 m² có 200 m² đất ở đô thị và 508 m² đất cây lâu năm, Hồ sơ kỹ thuật thể hiện trên đất có 02 căn nhà. Tuy nhiên, theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 06/9/2022 của Công ty Đ1 chỉ xác định diện tích đất chung: 507,0 m² qua các điểm 1,7,6,5,4,30,29,24,28; 200 m² qua các điểm 29,30,3,2,28,24, chưa thể hiện cụ thể vị trí, diện tích đất ở và đất cây lâu năm làm cơ sở cho việc định giá quyền sử dụng đất, làm căn cứ cho việc phân chia, giao đất cho người thừa kế được quyền sử dụng và thực hiện nghĩa vụ hoàn giá trị đất cho các thừa kế khác. Đồng thời cũng cần xác minh làm rõ nhu cầu về chỗ ở của các đương sự trong vụ án để xem xét phân chia bằng hiện vật hay giá trị nhằm đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
    4. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
    5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên những người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại tiền tạm ứng phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310; khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Ngọc H, Huỳnh Thị Thúy N3; Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), Huỳnh Hữu N4, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc N5;

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 219/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Huỳnh Ngọc T, ông Huỳnh Hữu T1, bà Huỳnh Ngọc H, Huỳnh Thị Thúy N3, Huỳnh Hiếu N1 (Huỳnh Hữu N2), Huỳnh Hữu N4, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc N5 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho bà T, ông T1, bà H, bà N3, ông N2, ông N4, bà Ngọc H1, bà Ngọc N5 tiền tạm ứng án phí đã nộp mỗi người là 300.000 đồng theo các Biên lai thu số 0001037 ngày 08/11/2023; 0001042 ngày 09/11/2023; 0001100, 0001104, 0001103, 0001101, 0001102 ngày 16/11/2023; 0001154 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND thành phố Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 197/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger