trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 197/2023/DS-ST

Ngày : 24 - 8 - 2023

V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường

2. Bà Phan Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên

tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 265/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 358/2023/QÐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1;

Trụ sở: số B - B đường N, Phường H, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng

giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Minh S, chức vụ: Giám đốc Chi

nhánh A;

2

Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Chu Toàn T, chức vụ: chuyên viên

3

quản lý nợ

Địa chỉ nơi làm việc: Ngân hàng thương mại cổ phần S1 Chi nhánh A; số

333 đường Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang

2. Bị đơn: Ông Trần L, sinh năm 1990;

Cư trú: số E đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông Chu Toàn T đại diện cho nguyên đơn vắng mặt và có đơn

xin vắng mặt; ông L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (viết tắt là Ngân hàng) trình bày:

Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S1 và ông Trần L có ký kết Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông L vay số tiền 40.000.000 đồng; mục đích vay vốn: tiêu dùng (mua sắm trang thiết bị gia đình); thời hạn vay 03 năm; lãi suất 21%/năm.

Quá trình vay vốn, ông L đã thực hiện nghĩa vụ trả lãi, vốn theo định kỳ. Nhưng từ ngày 10 tháng 01 năm 2022 đến nay, ông L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc nhưng không có kết quả. Tính đến ngày 19 tháng 5 năm 2023, ông L còn nợ ngân hàng số tiền tổng cộng: 12.523.267 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 8.864.000 đồng, nợ lãi là 3.659.267 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12 tháng 7 năm 2023 là 12.932.111 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 8.864.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.718.835 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.282.516 đồng, phí phạt quá hạn là 66.760 đồng. Ông L có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 13 tháng 7 năm 2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn ông Trần L: vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

- Ông Chu Toàn T, đại diện Ngân hàng vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ông L vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.

4

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019 có chữ ký của ông L và ông L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có ý kiến trình bày phản đối yêu cầu trên của nguyên đơn, các bên có giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật, nội dung các bên đã thỏa thuận quyền và nghĩa vụ các bên, số tiền, mục đích vay và thời hạn vay, phương thức trả nợ, cam kết trả nợ,... do đó giao kết hợp đồng các bên có giá trị pháp lý. Vì ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng như nội dung thỏa thuận nên việc Ngân hàng yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc, lãi là có cơ sở theo quy định tại các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc ông L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi chưa thanh toán theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019 mà các bên đã ký kết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện ông Trần L yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ. Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy giữa Ngân hàng và ông L có xác lập Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019. Sau khi nhận tiền vay, ông L đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo định kỳ như thỏa

5

thuận, nhưng từ ngày 10 tháng 01 năm 2022, ông L đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận. Tính đến ngày 24 tháng 8 năm 2023, ông L còn nợ lại Ngân hàng số tiền tổng cộng là 13.209.285 đồng, trong đó dư nợ gốc phải trả là 8.864.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 2.932.174 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.389.186 đồng, phạt quá hạn (lãi tính trên nợ lãi) là 23.925 đồng. Xét thấy: Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ được các bên giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên đã tự nguyện thực hiện hợp đồng được một thời gian thì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận giao kết. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, ông L không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận.

[3.2] Đối với yêu cầu trả lãi của Ngân hàng, xét thấy: theo Điều 3 và Điều 5 của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019, các bên đã thỏa thuận về việc bị đơn phải chịu lãi trong hạn, lãi quá hạn do chậm trả nợ gốc và lãi do chậm trả lãi. Ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 10 tháng 01 năm 2022, khoản vay của ông L đã chuyển sang nợ quá hạn từ thời điểm này theo thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, ông L không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến phản đối về số tiền lãi, lãi suất phải chịu. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng đối với phần tiền lãi, phạt quá hạn (lãi tính trên nợ lãi) là có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 13.209.285 đồng (tính đến ngày 24 tháng 8 năm 2023). Đồng thời, kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2023, buộc ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm; ông L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 238, các Điều 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

6

  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S1 đối với ông Trần L.

Buộc ông Trần L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tổng số tiền 13.209.285 đồng (mười ba triệu hai trăm linh chín nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng) tạm tính đến ngày 24 tháng 8 năm 2023, trong đó dư nợ gốc phải trả là 8.864.000 đồng (tám triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn đồng), nợ lãi trong hạn là 2.932.174 đồng (hai triệu chín trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bốn đồng), nợ lãi quá hạn là 1.389.186 đồng (một triệu ba trăm tám mươi chín nghìn một trăm tám mươi sáu đồng), phạt quá hạn (lãi tính trên nợ lãi) là 23.925 đồng (hai mươi ba nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (24 tháng 8 năm 2023) ông Trần L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1925200811 ngày 10 tháng 9 năm 2019, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần L phải chịu 660.464 đồng (sáu trăm sáu mươi nghìn bốn trăm sáu mươi bốn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần S1 không phải chịu án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 313.000 đồng (ba trăm mười ba nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001912 ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (2);
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên (1);
  • - VKSND TP Long Xuyên (1);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thùy Giang

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Mỹ Hường

Phan Hoàng Mai

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2023/DS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 197/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger