Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 197/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm.

Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 203/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST–HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Công K, sinh năm 1990 tại tỉnh Quảng Nam; địa chỉ thường trú: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số CCCD: [...]; con ông Nguyễn Công A, sinh năm 1965 và bà Võ Thị P, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2018, bị Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, chấp hành xong ngày 06/3/2018; ngày 24/4/2024, bị bắt tạm giam, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Hoàng Anh Đ, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Bùi Đức N, sinh năm 1990; địa chỉ: Cơ sở cầm đồ Đ1 - Số B, B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công K và ông Hoàng Anh Đ có mối quan hệ xã hội, quen biết nhau do K từng làm thuê nghề thêu cho ông Đ từ năm 2014.

Ngày 18/8/2023, K đến nhà ông Đ tại khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương xin làm thêu thì ông Đ đồng ý và cho K ở lại nhà của ông Đ. Sáng ngày 19/8/2023, ông Đ nói K dọn dẹp cỏ sân vườn nhà giúp ông Đ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, ông Đ có việc nên đi ra khỏi nhà nên nhờ cháu là ông Ngô Hoàng Tân t nhà. Tuy nhiên, T chỉ ở trong nhà chơi điện thoại. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, K đang dọn dẹp cỏ thì bực tức vì không được ông Đ cho làm nghề thêu như đã thỏa thuận nên K muốn nghỉ việc. Lúc này, K thấy chiếc xe môtô hiệu Wave màu đỏ đen, biển số 61X1–3413 của ông Đ để trong sân nhà, chìa khóa có sẵn trên xe, không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, K lén lút lấy xe môtô biển số 61X1–3413 và điều khiển chạy đến Cơ sở cầm đồ Đ1 tại địa chỉ: Số B B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Bùi Đức N làm chủ yêu cầu cầm cố xe này. Ông N hỏi xe của ai thì K nói xe của vợ K và đưa giấy thông báo định danh, ảnh thẻ của K để làm tin. Ông N tin tưởng nên đồng ý cầm cố xe với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm tram nghìn đồng). Sau đó, K bỏ đi về quê tại xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam và tiêu xài hết số tiền cầm cố xe có được.

Đối với ông Hoàng Anh Đ, cùng ngày 19/8/2023 khi ông Đ về đến nhà không thấy xe môtô và K nên gọi điện thoại liên lạc với K yêu cầu trả lại xe cho ông Đ. K gửi hình ảnh thông tin phiếu cầm cố xe cho ông Đ. Đến ngày 23/8/2023, ông Đ đến Công an phường T trình báo vụ việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra C (nay là thành phố) B thụ lý theo thẩm quyền.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B bắt giữ bị cáo tại xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ, số máy 1287001, số khung Y086179, biển số đăng ký: 61X1-3413.

Theo Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ biển số: 61X1-3413, đã qua sử dụng trị giá 4.975.000 đồng (bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C (nay là thành phố) Bến C giao trả xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, màu, đỏ biển số: 61X1-3413 cho ông Hoàng Anh Đ. Ông Đ nhận lại xe, không có yêu cầu bồi thường gì và có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.

Ông Bùi Đức N là chủ cơ sở cầm đồ không yêu cầu Nguyễn Công K trả lại số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 31/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Công K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Bản Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 31/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Công K về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Công K: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công K từ 07 đến 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Trong quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 31/7/2024.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và phần luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Công K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 19/8/2023, tại khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Công K đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, biển số 61X1-3413 trị giá 4.975.000 đồng (bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của ông Hoàng Anh Đ rồi đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài hết.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo Nguyễn Công K thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản Cáo trạng số 205/CT-VKSBC ngày 31/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân từ nguồn thu nhập hợp pháp nhưng vì tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng cho mục đích cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khung hình phạt nên chỉ xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời, bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Ngày 26/02/2018, bị cáo bị Công an huyện D, tỉnh Quảng Nam xử phạt hành chính phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 06/3/2018.

Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra C (nay là thành phố) Bến C giao trả xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, màu, đỏ biển số: 61X1-3413 cho ông Hoàng Anh Đ. Ông Đ nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ông Bùi Đức N là chủ cơ sở cầm đồ không yêu cầu bị cáo Nguyễn Công K phải trả lại số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ông N không có yêu cầu gì trong vụ án này nên cũng không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Đối với việc ông Bùi Đức N có hành vi nhận cầm cố xe môtô biển số 61X1-3413 do bị cáo phạm tội mà có nhưng không biết xe do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông N là có căn cứ. Ngày 29/5/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B ban hành Công văn số 789 gửi Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo đối tượng vi phạm hành chính trên địa bàn để xử lý theo thẩm quyền.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công K phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Công K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết Bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 197/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger