TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 197/2025/HS-ST Ngày 17/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Nâu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chiến;
2. Ông Nguyễn Văn Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Lệ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17/12/2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2025/TLST-HS ngày 04/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 371/2025/QĐXXST-HS ngày 26/11/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phùng Mí N, sinh năm 1986. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn M, xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là thôn M, xã S, tỉnh Tuyên Quang); Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12 (không biết chữ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phùng Tả P (đã chết) và bà Vừ Thị C, sinh năm 1942; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất; Có vợ: Ma Thị P1, sinh năm 1999 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2024.
- Tiền án, tiền sự: Không có.
- Nhân thân: Bản án số 69/HSST ngày 22/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang (cũ) xử phạt 42 tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về An ninh Quốc gia” theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt buộc N phải chấp hành 48 tháng tù. Bị can chấp hành xong bản án ngày 01/10/2007.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Già Mí P2, sinh năm 1981. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn L, xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang); Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Già Chứ Mua (đã chết); con bà Thò Thị T (đã chết); Bị cáo là con duy nhất; Có vợ: Già Thị S, sinh năm 1988 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo P2 và bị cáo N: Ông Thân Văn L – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Chu Thị V, sinh năm 1991 và anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn S, xã B, tỉnh Bắc Ninh), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/10/2023, chị Chu Thị V, anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Văn H làm visa du dịch xuất cảnh từ Việt Nam sang Trung Quốc làm việc. Tuy nhiên, khi làm thủ tục xuất cảnh tại cửa khẩu H2, tỉnh Lạng Sơn, do mục đích xuất cảnh không đúng nên Hải quan Trung Quốc không đồng ý cho chị V, anh T1 và anh H nhập cảnh vào Trung Quốc. Trong quá trình làm thủ tục tại cửa khẩu H2, chị V quen biết với người phụ nữ tên H1 ở tỉnh Thanh Hoá (chị V không biết lai lịch cụ thể của H1). Qua nói chuyện, H1 biết chị V có ý định sang Trung Quốc làm việc nhưng không xuất cảnh được nên đã cho chị V số điện thoại 0332.867.881 của Hoàng Ngọc C1, sinh năm 1993 trú tại tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố P, thị trấn V, tỉnh Bắc Ninh), đồng thời, H1 nói với V về việc C1 có thể đưa người Việt Nam vượt biên sang Trung Quốc để làm việc (V hiểu ý H1 nói C1 có thể đưa người vượt biên trái phép sang Trung Quốc).
Đến tháng 11/2023, V liên hệ với C1 trao đổi về việc vượt biên sang Trung Quốc thì C1 hứa hẹn sẽ đưa nhóm của chị V vượt biên sang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để lao động với mức lương từ 5.000-6.000 NDT/tháng, chi phí vượt biên và tìm việc làm là 5.000 NDT/01 người (trong đó 3.500 NDT là tiền chi phí xin việc và 1.500 NDT là tiền chi phí cho người đưa vượt biên), chị V đồng ý. Sau đó, C1 bảo chị V đổi 5000NDT để đưa cho người dẫn đường và hướng dẫn nhóm chị V tự bắt xe lên thị trấn M, tỉnh Hà Giang (cũ) sẽ có người đón đưa đi vượt biên.
Ngày 24/11/2023, chị V, anh T1 và anh H bắt xe lên thị trấn M, huyện M thuê nhà nghỉ N1 1 chờ C1 cho xe đến đón. Khoảng 16 giờ ngày 25/11/2023, chị V, anh T1 và anh H đang ở nhà nghỉ thì Phùng Mí N điều khiển xe ô tô Ford everest 07 chỗ BKS 23A-060.20 đến nhà nghỉ N1 đón nhóm của chị V (do trước đó, N được một người đàn ông Trung Quốc bảo Nô đến nhà nghỉ N1 ở thị trấn M đón 03 người Việt Nam (02 nam và 01 nữ) chở đến khu vực gần cột mốc số 499 để giao cho Già Mí Pó có số điện thoại 0981.572.415 với giá 400NDT, người đàn ông Trung Quốc dặn Nô đến đón muộn nên N biết việc các đối tượng tổ chức vượt biên trái phép). Trên đường đi, N và chị V có nói chuyện với nhau nên N biết đang chở nhóm chị V vượt biên trái phép sang Trung Quốc. Khi đang trên xe, C1 gọi điện cho chị V yêu cầu chị V chuyển khoản cho C1 tiền chi phí theo thỏa thuận, chị V đồng ý và chuyển vào số tài khoản 0332867881 tại Ngân hàng TMCP Q mang tên Hoàng Ngọc C1 tổng số tiền 36.225.000 đồng.
Quá trình đưa nhóm của chị V đi vượt biên, N gọi điện cho P2 nhiều lần để trao đổi về địa điểm giao người thì P2 dặn N chở nhóm của chị V đến đoạn đường mòn rẽ vào cột mốc 499, Pó đợi ở đó. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N đến chỗ hẹn thì gặp P2 và Già Mí D, sinh năm 2013 (con trai P2), P2 đưa cho Nô 400NDT tiền xe (người Trung Quốc nhờ Pó trả hộ). N bảo nhóm của chị V xuống xe đi theo P2 còn N điều khiển xe ô tô về nhà. Do trước đó người Trung Quốc dặn P2 khoảng 20 giờ thì đưa người vượt biên nên P2 đưa nhóm của chị V đến lán trông ngô của gia đình P2 ngồi đợi. Khoảng 30 phút sau, P2 đưa nhóm của chị V đi theo đường mòn đến khu vực cột mốc 499 thấy 02 người Trung Quốc đã đợi sẵn ở đó (Pó không rõ lai lịch). P2 bảo nhóm chị V tự đi qua biên giới. Người Trung Quốc chỉ xuống đất gần chân P2 đứng bảo P2 tự lấy tiền. Pó nhặt tiền lên thì thấy có 550NDT, trong đó có 400NDT (khoảng 1.500.000 đồng) Pó đã trả N trước đó và 150NDT (khoảng 500.000 đồng) là tiền công của P2.
Sau khi đưa nhóm của chị V vượt biên trái phép sang Trung Quốc, P2 đi về nhà. Nhóm của chị V tiếp tục cùng 02 người Trung Quốc đi theo đường mòn vào nội địa Trung Quốc. Khi đến đường Quốc lộ, 01 người Trung Quốc gọi điện cho C1 rồi đưa điện thoại cho chị V nói chuyện. C1 bảo chị V đưa cho 02 người Trung Quốc số tiền 4.500NDT, chị V đồng ý và đưa tiền cho 02 người Trung Quốc. Hai người Trung Quốc cầm tiền và bảo nhóm chị V nấp trong bụi cây đợi 15 phút nữa sẽ có xe ô tô đến đón. Khoảng 15 phút sau, khi xe ô tô đến, nhóm chị V vừa lên xe thì bị Công an Trung Quốc bắt quả tang, sau đó xử phạt mỗi người 06 tháng tù giam vào 3.000NDT. Đến ngày 11/6/2024, chị V, anh T1 và anh H bị trục xuất về Việt Nam qua cửa khẩu S1 - Cao Bằng.
Ngày 28/8/2025, chị Ma Thị P1 (là vợ của Phùng Mí N) tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000 đồng; chị Giàng Mí L1 (con Già Mí P2) tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng. Đây là tiền N và P2 được hưởng lợi khi thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe ô tô Ford everest 07 chỗ, BKS 23A-060.20 Nô điều khiển chở chị V, anh T1 và anh H vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc ngày 23/11/2023: Quá trình xác minh xác định chủ sở hữu của chiếc xe trên là ông Trần Văn C2, sinh năm 1966 trú tại thôn M, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Do ông C2 chưa có bằng lái xe nên có thuê N lái xe taxi. Ông C2 không biết N nhận và chở khách vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B không thu giữ.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 05/CT-VKSBN-P1 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Phùng Mí N và Già Mí Pó về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Mí N và Già Mí P2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Mí N và bị cáo G Mí Pó phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Mí N từ 18 đến 20 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
Xử phạt bị cáo Già Mí P2 từ 14 đến 16 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng, án phí đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với lời trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đã tác động gia đình nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên đề nghị HĐXX áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo sinh sống ở vùng biên giới có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị HĐXX phạt bị cáo Phùng Mí N và Già Mí P2 từ 12 đến 13 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” và cho bị cáo G Mí Pó được hưởng án treo vì bị cáo P2 có nhân thân tốt, có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Kiểm sát viên, nhất trí với ý kiến của người bào chữa đã đưa ra và có lời nói sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được nên có cơ sở khẳng định: Ngày 25/11/2023, tại khu vực biên giới gần cột Mốc 499, thuộc thôn L, xã S, tỉnh Tuyên Quang, xuất phát từ động cơ vụ lợi, Phùng Mí N và Già Mí Pó đã tổ chức cho chị Chu Thị V, anh Nguyễn Văn T1 và anh Nguyễn Văn H vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc. Nô được hưởng lợi số tiền 400NDT, P2 được hưởng lợi số tiền 150NDT.
Do đó, hành vi của bị cáo Phùng Mí N và Già Mí Pó phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến lĩnh vực quản lý của nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, nhất là khu vực biên giới quốc gia. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4]. Xét về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án, HĐXX nhận thấy: Bị cáo Phùng Mí N là người tham gia tích cực hơn và nhận số tiền 1.500.000 đồng thu lợi bất chính lớn hơn bị cáo bị cáo Già Mí Pó đã nhận 500.000 đồng nên bị cáo Phùng Mí N có vai trò cao hơn bị cáo Già Mí P2.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn được quy định tại Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
[5]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo Phùng Mí N là người có nhân thân xấu, tại Bản án số 69/HSST ngày 22/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 42 tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về An ninh Quốc gia” theo khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1999 và 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt buộc N phải chấp hành 48 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 01/10/2007.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài các tình tiết định tội và định khung hình phạt, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo đã tác động người thân trong gia đình tự nguyện nộp lại số tiền được hưởng lợi, cụ thể ngày 28/8/2025, chị Ma Thị P1 (là vợ của Phùng Mí N) tự nguyện giao nộp số tiền 1.500.000 đồng; chị Giàng Mí L1 (con Già Mí P2) tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như ý kiến phát biểu, tranh luận của Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ.
[6]. Từ tính chất hành vi, vị trí và vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm như luận tội của Kiểm sát viên đại diện cho VKSND tỉnh Bắc Ninh đã đề nghị tại phiên tòa. Không chấp nhận ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo Già Mí Pó được hưởng án treo.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng biên giới, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo, để bị cáo yên tâm chấp hành hình phạt tù như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên đại diện cho VKSND tỉnh Bắc Ninh và của người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8]. Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại Iphone 13 Promax, lắp sim số 0327.826.162 của bị cáo của bị cáo Phùng Mí N; 01 điện thoại OPPO, lắp sim số 0981.572.415 của bị cáo của bị cáo G Mí Pó dùng liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền 2.000.000 đồng do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe ô tô Ford everest 07 chỗ, BKS 23A-060.20, Nô điều khiển chở chị V, anh T1 và anh H vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc ngày 23/11/2023: Quá trình xác minh, xác định chủ sở hữu của chiếc xe trên là ông Trần Văn C2, sinh năm 1966, trú tại thôn M, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Do ông C2 chưa có bằng lái xe nên có thuê N lái xe taxi. Ông C2 không biết N nhận và chở khách vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B không thu giữ và xử lý chiếc xe trên. HĐXX xét thấy là phù hợp quy định của pháp luật.
[9]. Liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Hoàng Minh C3, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã xác minh thông tin theo lời khai của chị V. Tuy nhiên, hiện C3 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật; đối với những người Trung Quốc đã thuê N, P2 đưa, đón chị V, anh T1 và anh H vượt biên trái phép từ Việt Nam sang Trung Quốc, Nô, P2, chị V, anh T1 và anh H không biết rõ lai lịch, nên không có căn cứ để xác minh; đối với người phụ nữ tên H1 đã giới thiệu Hoàng Minh C3 với chị V, Chị V không biết thông tin, lai lịch cụ thể của H1 nên không có căn cứ xác minh. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[10]. Về án phí: Các bị cáo Phùng Mí N và Già Mí Pó thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, HĐXX miễn nộp toàn bộ tiền án phí cho các bị cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phùng Mí N và Già Mí Pó.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Mí N 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2025.Xử phạt: Bị cáo Già Mí Pó 01 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 26/5/2025.
Căn cứ khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Phùng Mí N và Già Mí Pó 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 13 Promax, lắp sim số 0327.826.162; 01 điện thoại OPPO, lắp sim số 0981.572.415 và số tiền 2.000.000 đồng.
(Tất cả vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/11/2025 giữa Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Bắc Ninh và Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Phùng Mí N và Già Mí P2.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Nâu |
Bản án số 197/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Số bản án: 197/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Mí N và đồng phạm - Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép
