TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 197/2024/HS-ST Ngày 16 tháng 12 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và ông Lý Tuấn Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thanh Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 206/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc T, sinh năm: 1972 tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số A, đường C, tổ D, khu phố D, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện nay: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chăn nuôi gà; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc T1 (chết) và bà Đặng Thị L, sinh năm 1955; vợ Mai Thị Hồng N (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm: 2007, nhỏ sinh năm 2010.
Nhân thân: Ngày 20 tháng 4 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 14 tháng. Ngày 17 tháng 02 năm 2022 chấp hành xong.
Tiền án:
- + Ngày 18 tháng 8 năm 2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 01 tháng 9 năm 2009;
- + Ngày 13 tháng 12 năm 2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (áp dụng tình
tiết tăng nặng tái phạm), chấp hành xong hình phạt ngày 26 tháng 10 năm 2014 nhưng chưa đóng án phí và hình phạt bổ sung.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02 tháng 8 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lý Sơn Minh Đ, sinh năm: 1981; Địa chỉ: số I T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- + Ông Phạm Minh K, sinh năm: 1989; Địa chỉ: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. ĐT: 0939.850.xxx (vắng mặt).
- + Ông Phạm Văn Q, sinh năm: 1957; Địa chỉ: số F, ấp L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. ĐT: 0919.478.xxx (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 02 tháng 8 năm 2024 Tổ đặc nhiệm 124 Công an tỉnh A (Tổ đặc nhiệm) tuần tra kiểm soát trên đường T, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang phát hiện Lê Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 69D1 – 137.18 có biểu hiện nghi vấn nên Tổ đặc nhiệm yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần quần sọt Jean phía sau bên trái của T đang mặc có một tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng xếp lại, bên trong có 01 bọc nylon trong suốt, hàn kín chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là chất ma túy nên tiến hành thu giữ tang vật và dẫn giải T bàn giao cho Công an phường M lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) bọc nylon trong suốt có chứa tinh thể màu trắng được hàn kín nghi vấn là ma túy; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển số 69D1-137.18, số máy E455147722, số khung RCSBE41700B0147723.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Công an phường M, thành phố L, xác định: Lê Ngọc T dương tính với Methamphetamine.
Kết luận giám định số 1090/KL-KTHS ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A: 01 hộp giấy màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Bữu T2, Trương Tiến D, Trần Nguyễn Chí B, Lê Ngọc T. Bên trong có: 01 bọc nylon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,1178g (kí hiệu M). Mẫu M gửi đến giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,1178g (Không phẩy một một bảy tám gam).
Kết luận giám định số 1525/KL-KTHS ngày 27 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 69D1 –137.18 số khung, số máy không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
Quá trình điều tra xác định: T sử dụng ma tuý khoảng năm 2006 cho đến ngày bị bắt. Khoảng 23 giờ ngày 01/08/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 69D1-137.18 đi từ trại nuôi gà của T (khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang) đến Công viên gần Uỷ ban nhân dân tỉnh thuộc phường M, thành phố L, tìm người tên C để nhờ mua ma túy. Khi gặp C, T đưa cho C 100.000 đồng nhờ mua dùm ma túy đá. Cu nhận tiền rồi đạp xe đạp về hướng cầu H. Khoảng 05 phút sau, T điều khiển xe về hướng cầu H, khi đến C thuộc phường M, thành phố L thì gặp C và C đưa cho T 01 bọc ma túy đá. T lấy tờ giấy bạc mệnh giá 1.000 đồng của T gói bọc ma túy đá lại để vào túi sau bên trái quần sọt Jean đang mặc, sau đó điều khiển xe về trại nuôi gà ở khóm Đ, phường M. Khi đến trước cổng vào căn trại thì bị lực lượng tuần tra của Công an tỉnh A đến kiểm tra và bắt quả tang.
Ông Lý Sơn Minh Đ, Phạm Minh K, Phạm Văn Q (cha của anh K) trình bày: Ông Đ cho Lê Ngọc T thuê vườn để nuôi gà. Xe mô tô biển số 69D1-137.18 của ông Q đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Cách đây hơn 01 năm ông Q đã giao xe cho ông K quản lý và sử dụng. Do nhà hẹp, nên ông K gửi xe tại vườn của ông Đ và giao xe cho ông Đ giữ dùm. Chiều ngày 01 tháng 08 năm 2024, ông Đ cho T mượn xe để đi công việc, không biết T sử dụng xe để đi buôn ma túy. Ông Q và ông K yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 69D1-137.18.
Tại Cáo trạng số 216/CT-VKSLX ngày 15 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc T khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định do đây là vật cấm lưu hành; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền 1.000 đồng (một nghìn đồng); Trả lại cho ông Phạm Minh K 01 xe mô tô, biển số 69D1-137.18 do không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt tại phiên toà không gây cản trở cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Ngày 02 tháng 8 năm 2024, Tổ đặc nhiệm kiểm tra và phát hiện, thu giữ trên người bị cáo Lê Ngọc T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1178gam Methamphetamine là chất ma túy để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố.
[4] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe và đầy đủ năng lực nhận thức cũng như điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã từng đưa đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy và có 02 tiền án trong đó có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Lẽ ra, sau khi về địa phương phải tìm cho mình một việc làm ổn định tạo thu nhập ổn định để nuôi sống bản thân, lo cho gia đình và đóng góp cho xã hội. Nhưng trái lại, bị cáo không chí thú làm ăn mà chạy theo lối sống buông thả và tiếp tục tái nghiện ma túy. Cụ thể, ngày 02/8/2024, do cần ma túy để sử dụng nên bị cáo đi mua ma túy cất giữ trong người, trên đường về đến phường M thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Mặc dù, bị cáo nhận thức rất rõ ma túy là một loại chất độc hại, phá hoại sự sống của con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện; xâm phạm chế độ quản lý
các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Đối với người có tên Cu giúp T mua ma túy, không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy những vật chứng là những vật phẩm cấm lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo gồm: 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 1090/KL-KTHS ngày 06/8/2024 có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Nhân H1;
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền 1.000 đồng (một nghìn đồng);
- - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K: 01 xe môtô, biển số 69D1-137.18, do không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 13/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
[9] Về phần án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 02 tháng 8 năm 2024.
[2 Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 1090/KL-KTHS ngày 06/8/2024 có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H, Trần Nhân H1;
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền 1.000 đồng (một nghìn đồng);
- - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh K: 01 (một) xe môtô biển số 69D1-137.18.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 13/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông Lý Sơn Minh Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 197/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn thanh tùng
