Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 197/2024/DS - PT

Ngày: 15 - 11 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Lực

Ông Phạm Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Xuân Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 132/2024/QĐ - PT ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn:

1. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1974 (có mặt)

2. Bà Lê Thanh H, sinh năm 1980 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Chỗ ở hiện nay: số D, khóm F, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D trình bày: Từ ngày 09/01/2010 đến ngày 06/9/2012 bà có bán thức ăn nuôi gia súc cho vợ chồng ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H, trong khoản thời gian trên ông T, bà H còn nợ bà tiền mua thức ăn với số tiền 229.342.000 đồng. Đến ngày 19/3/2013 thì ông T, bà H trả cho bà được số tiền 15.000.000 đồng, còn nợ lại bà số tiền 214.342.000 đồng, bà có làm biên nhận do ông T, bà H ký tên xác nhận. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông T, bà H trả số tiền nợ trên nhưng ông T, bà H cứ lẫn tránh không chịu thực hiện việc trả nợ. Nay bà yêu cầu ông T, bà H trả cho bà số tiền còn nợ là 214.342.000 đồng, bà rút lại đối với yêu cầu trả lãi.

Bị đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H trình bày: Vào năm 2006, ông bà, có nuôi trang trại heo và có mua cám heo của bà Nguyễn Thị Kim D, bà D hứa bao đến xuất chồng, thời gian đầu làm ăn qua lại rất tốt, đến thời điểm dịch heo tai xanh cả tỉnh, ông bà không bán được heo nên chậm trả tiền cho bà D; bà D ngừng cung cấp cám mà không báo trước, cả trang trại không có thức ăn cho heo nên ông, bà đã mua cám máy chà cho heo ăn đỡ, do không chất lượng nên heo ngày càng bệnh và ốm nhiều hơn, thời gian kéo dài cả trang trại heo của ông bà chết hàng loạt. Ông, bà phải vay vốn ngân hàng để xây trang trại heo, mua con giống nhưng bà D cắt thức ăn nữa chừng nên ông, bà mất trắng; ông, bà nợ ngân hàng cả tỷ đồng và vay nóng cả trăm triệu nên ông, bà không có khả năng trả nợ cho bà D. Bà D phải tính làm sao để hài lòng giữa hai bên, để ông, bà khắc phục cuộc sống gia đình và thanh toán số tiền 214.342.000 đồng cho bà D. Ông, bà yêu cầu Tòa án xem xét buộc bà D phải có trách nhiệm bồi thường số tiền heo chết của trang trại ông, bà.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D.

    Buộc ông Huỳnh Văn T và bà Lê Thanh H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim D số tiền 214.342.000 đồng.

  2. Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi của bà Nguyễn Thị Kim D.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, bị đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông, bà trả số tiền 214.342.000 đồng, tiền lãi chậm thi hành án, tiền án phí sơ thẩm và yêu cầu bà D bồi thường thiệt hại trang trại heo của ông, bà số tiền 230.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của vị Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D cho rằng bị đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H còn nợ tiền mua thức ăn của bà D số tiền 214.342.000 đồng, bà D có cung cấp Tờ xác nhận công nợ ngày 12/10/2018 thể hiện ông T, bà H còn nợ bà D số tiền 214.342.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T, bà H thừa nhận có nợ số tiền trên và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông T, bà H thừa nhận có ký vào Tờ xác nhận công nợ này, đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T, bà H trả cho bà D số tiền nợ 214.342.000 đồng và buộc ông T, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật. Do đó, kháng cáo của ông T, bà H là không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đối với kháng cáo của ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Nguyễn Thị Kim D bồi thường thiệt hại trang trại heo của ông, bà số tiền 230.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu này của ông T, bà H chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết nên kháng cáo này của ông T, bà H không thuộc phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm.

[2] Đối với kháng cáo của ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông, bà trả số tiền 214.342.000 đồng, tiền lãi chậm thi hành án, tiền án phí sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D cho rằng ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H còn nợ bà D tiền mua thức ăn cho heo với số tiền 214.342.000 đồng và có cung cấp cho Tòa án Tờ xác nhận công nợ ngày 12/10/2018 của ông T, bà H (BL 39). Theo nội dung Tờ xác nhận công nợ này thể hiện, ông T, bà H thừa nhận còn nợ bà D số tiền 214.342.000 đồng; tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị đơn ông T, bà H cũng thừa nhận có ký vào Tờ xác nhận công nợ này. Tại đơn xin yêu cầu phản tố ngày 05/12/2022 của ông T, bà H thể hiện ông T, bà H cũng thừa nhận còn thiếu bà D số tiền 214.342.000 đồng (BL 42). Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T, bà H trả cho bà D số tiền 214.342.000 đồng và buộc ông T, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ chậm thi hành án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông T, bà H.

[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T, bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ các Điều 430, 440, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D.

    Buộc ông Huỳnh Văn T và bà Lê Thanh H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim D số tiền 214.342.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Huỳnh Văn T, bà Lê Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông T, bà H đã nộp theo biên lai thu số 0004315 ngày 19/7/2024, và biên lai số 0004551 ngày 18/10/20 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, ông T, bà H không phải nộp tiếp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Càng Long;
  • - Chi cục THADS huyện Càng Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, TDS

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/DS - PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 197/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger