|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 197/2024/HS-ST Ngày: 15/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Thành
Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 15/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 213/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Thị H; Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1976 tại: huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT, Nơi ở hiện nay: bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: không đi học; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Mạnh T, sinh năm 1954 và bà Vi Thị T1, sinh năm 1956; Chồng: Vi Văn M, sinh năm 1968 (không đăng ký kết hôn). Con: 02 người, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án/tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến ngày 04/8/2024. Hiện tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Thị H (sinh ngày 29/01/1976, trú tại bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An), do thường xuyên qua lại giữa huyện Q và huyện S để hoạt động buôn bán và thu mua nông sản, H quen biết và có mối quan hệ làm ăn với ông Phone S (trú tại thị trấn S, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Lào). Qua đó, H biết ông Phone S thu mua ngô tại Lào bán cho một số người Việt Nam. Ngày 20/12/2023, H đi từ huyện Q qua Lào gặp ông Phone S và hai bên thỏa thuận với nhau về việc H mua ngô của ông Phone S tại Lào với giá 3.000 đồng/kg, rồi thuê xe ô tô đi từ Việt Nam qua Lào vận chuyển ngô về Việt Nam để bán. Sau khi thống nhất việc mua ngô, H về tại xã T, huyện Q thì gặp anh Bùi Ngọc N (sinh năm 1990, trú tại: xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An -là người lái xe ô tô tải) để thuê xe ô tô qua Lào vận chuyển ngô về Việt Nam. Do xe ô tô của anh N bận chở hàng nên H nhờ anh N liên hệ tìm xe ô tô cho H thuê để đi qua Lào vận chuyển ngô hạt về Việt Nam với mức tiền cước vận chuyển là 400.000 đồng/tấn, các chi phí phát sinh và thủ tục liên quan đến hàng hóa do H chịu trách nhiệm thì anh N đồng ý. Sau đó, anh N liên hệ và trao đổi với anh Bùi Văn T2 (sinh năm 1986, trú tại xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An) về việc Lương Thị H thuê xe ô tô của anh N chở ngô từ Lào về Việt Nam như đã thống nhất với H thì anh T2 đồng ý và liên hệ cho Bùi Sông L (sinh năm 1983, trú tại: xóm H, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An) để điều khiển xe đi qua Lào vận chuyển ngô về Việt Nam cho Lương Thị H.
Ngày 21/12/2023, anh L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73C - 072.19 kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 37R - 049.18 lên cửa khẩu T3, huyện Q để đi qua Lào vận chuyển ngô. H được N thông báo xe đã đến cửa khẩu T3 nên H đã đi xe máy ra đón xe và hướng dẫn anh L điều khiển xe đến khu vực tập kết ngô tại khu vực bản P, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Lào. Từ ngày 22/12/2023 đến ngày 24/12/2023, ông Phone S vận chuyển ngô từ các bản của huyện S, tỉnh Hủa Phăn ra địa điểm xe ô tô của anh L chờ sẵn và được số công nhân (người Lào) bốc lên thùng rơ mooc xe ô tô. Đến khoảng 18 giờ ngày 24/12/2023, khi ngô đã bốc lên xe ô tô xong, H đi xe máy, anh L điều khiển xe ô tô trên vận chuyển ngô đi đến cửa khẩu N1, Lào để về Việt Nam. Khi đến cửa khẩu N1, ông Phone S làm thủ tục để xin cho xe ô tô của anh L vận chuyển ngô đi qua cửa khẩu N1 đề về Việt Nam nhưng không được cán bộ trạm cửa khẩu N1 đồng ý nên xe ô tô vận chuyển ngô do anh L điều khiển phải dừng đỗ tại đây.
Đến khoảng 07 giờ ngày 25/12/2023, H đến cửa khẩu N1 để gặp ông Phone S và được ông Phone S xin lực lượng chức năng tại cửa khẩu cho xe ô tô biển kiểm soát 73C-072.19 kéo theo rơ mooc 37R - 049.18 vận chuyển số ngô trên về Việt Nam thì được lực lượng chức năng tại cửa khẩu N1 đồng ý, cho thông quan. Khi xe ô tô trên vận chuyển ngô về đến cửa khẩu T3, huyện Q, H đến gặp và xin lực lượng chức năng tại trạm quản lý cửa khẩu thuộc Đồn biên phòng T4 cho xe ô tô biển kiểm soát 73C - 072.19 kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát 37R - 049.18 chở ngô hạt trên xe về Việt Nam thì được lực lượng Biên phòng tại C. Sau khi nhập cảnh từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu T3, H lên xe ô tô đi cùng với anh L vận chuyển số ngô hạt trên để bán cho bà Phan Thị D (sinh năm 1964, trú tại thị xã T, tỉnh Nghệ An). Khi đến K+700 Quốc lộ D thuộc địa phận xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N và lực lượng cảnh sát giao thông phát hiện, dừng xe kiểm tra, bắt giữ. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong thùng rơ mooc xe ô tô trên có các bao tải đựng hạt ngô, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hàng hóa. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong phương tiện và hàng hóa là các bao bì đựng hạt ngô nêu trên. Ngày 26/12/2023, Hội đồng mở niêm phong phương tiện xác định khối lượng, hàng hóa trên xe và niêm phong lại xác định: số lượng ngô hạt không có hóa đơn, chứng từ được vận chuyển trên xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 73C - 072.19, kéo theo rơ mooc mang biển kiểm soát 37R - 049.18 có tổng khối lượng là 64.630 kg, được chứa trong 1.209 bao tải.
Ngày 05/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSKT) Công an tỉnh N đã ban hành yêu cầu số 138/YC yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự tỉnh Nghệ An tiến hành định giá tài sản đối với 1.209 bao tải chứa ngô hạt có tổng khối lượng 64.630 kg bị bắt giữ trên xe ô tô biển kiểm soát 73C-072.19 kéo rơ mooc 37R-049.18 tại thời điểm ngày 25/12/2023. Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An xác định trị giá tài sản của 1.209 bao tải chứa ngô hạt có tổng khối lượng 64.630 kg là 323.150.000 đồng. Giá trị hàng hóa được xác định tại địa bàn huyện Q sau khi trừ chi phí vận chuyển là 303.000.000 đồng (Công văn số 57/HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản.
Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N có Công văn số 230/PC03 (Đ3) gửi Cục Hải quan tỉnh N phối hợp xác minh. Ngày 26/01/2024, Cục Hải quan tỉnh N có Văn bản số 241/HQNA-NV phúc đáp: Lô hàng ngô hạt, số lượng 64.630 kg (chứa trong 1209 bao tải) được vận chuyển từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu T3, huyện Q, tỉnh Nghệ An bị bắt giữ vào ngày 25/12/2023 không thực hiện khai báo, làm thủ tục hải quan tại Cục Hải quan tỉnh N. Tại Công văn số 2757/HQNA-NV ngày 06/11/2024, Cục Hải quan tỉnh N cung cấp: tại thời điểm ngày 25/12/2023 cửa khẩu T3, huyện Q, tỉnh Nghệ An chưa được UBND tỉnh N công bố danh sách thuộc cửa khẩu phụ, lối mở biên giới của tỉnh được phép hoạt động, trao đổi hàng hóa của thương nhân. Do vậy, mặt hàng ngô hạt của thương nhân chưa được thực hiện trao đổi.
Cáo trạng số 169/CT-VKS- P3 ngày 03/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Thị H về tội “Buôn lậu” theo quy định tại khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng về tội danh và điều luật áp dụng, xác định giá trị hàng hóa buôn lậu là 303.000.000 đồng. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo.
Lương Thị H là người sinh sống tại xã T, huyện Q – địa bàn có chung đường biên giới, tiếp giáp với huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Quá trình sinh sống. Do thường xuyên qua lại giữa huyện Q và huyện S để hoạt động buôn bán và thu mua nông sản, H quen biết và có mối quan hệ làm ăn với ông Phone S (trú tại thị trấn S, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Lào). Ngày 20/12/2023, H đi từ huyện Q qua Lào gặp ông Phone S, hai bên thỏa thuận với nhau về việc H mua ngô của ông Phone S tại huyện S, tỉnh Hủa Phăn, Lào với giá 3.000 đồng/kg để đưa về bán tại Việt Nam.
Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo tại các cửa khẩu hai bên đối với người địa phương, từ ngày 21/12/2023 đến 25/12/2024, Lương Thị H đã thuê anh Bùi Sông L qua nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vận chuyển ngô mua của ông Phone S về Việt Nam qua cửa khẩu T3, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng không thực hiện nghĩa vụ kê khai hải quan đối với hàng hóa. Sau khi qua cửa khẩu T3, H đi cùng với anh Bùi Sông L vận chuyển số ngô hạt trên đi bán cho bà Phan Thị D (trú tại thị xã T, tỉnh Nghệ An), khi đến Quốc lộ D, thuộc địa phận xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bị kiểm tra, bắt giữ. Số lượng ngô hạt Lương Thị H mua tại Lào, vận chuyển về Việt Nam qua cửa khẩu T3 nhằm để bán, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, không thực hiện thủ tục kê khai hải quan có tổng khối lượng là 64.630kg, trị giá 303.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi buôn bán không có giấy phép, không khai báo về hàng hóa, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, phí khi đưa vào Việt Nam, là hành vi xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương của N2. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo về tội “Buôn lậu” theo quy định khoản 2 Điều 188 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có các tình tiết giảm nhẹ sau: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lương Mạnh T là thương binh hạng ¾, tỷ lệ thương tật 55% theo Giấy xác nhận thân nhân người có công số 02/GXN-UBND ngày 19/8/2024 của UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
[3] Tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, đã thành khẩn khai báo, hành vi phạm tội đơn giản, nơi cư trú rõ ràng, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương. Có căn cứ xử phạt bị cáo hình phạt ở mức khởi điểm khung hình phạt, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu được từ việc bán vật chứng là hàng hóa buôn lậu và 01 điện thoại bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; trả lại 01 giấy thông hành Giấy phép thông hành biên giới Việt Nam – Lào cho bị cáo.
[6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Tính hợp pháp của các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội “Buôn lậu”
[2] Căn cứ khoản 2 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Thị H 03 (ba) năm tù về tội “Buôn lậu”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2024.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phát chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3]. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 131.000.000 đồng thu được từ việc xử lý vật chứng vụ án. Số tiền hiện có tại tài khoản số [...] Sở Tài chính tỉnh N tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N theo Giấy nộp tiền ngày 22/10/2024 (So CT – Doc No: 221024.0017.000172); tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A23 thu giữ của Lương Thị H.
Trả lại cho bị cáo Lương Thị H 01 Giấy phép thông hành biên giới Việt Nam - Lào số L.
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024, giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6]. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Quốc Cường |
Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội buôn lậu
- Số bản án: 197/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn lậu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Luong Thi Huong buôn lậu
