|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 197/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Khem
Ông Triệu Khánh Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 280/2023/TLST-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần S;
Địa chỉ trụ sở chính: Số B P, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hoàng K là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 185/2023/GUQ-SGB-BL ngày 08/9/2023) (ông K có mặt).
Địa chỉ: Số A đường B, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Ông Ngô D; sinh năm: 1978 và bà Lâm Thị H; sinh năm: 1980 (ông D và bà H vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/9/2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Lê Hoàng K trình bày:
Theo giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN, ngày 23/02/2019 của Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN, đã ký ngày 21/02/2019 và giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019 của Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019. Ông Ngô D và bà Lâm Thị H có vay vốn tại Ngân hàng thương mại Cổ phần S - Chi nhánh B với những nội dung như sau:
- - Số tiền cho vay: 780.000.000 đồng
- - Mục đích vay vốn: Bù đắp phần thiếu hụt vốn nuôi tôm công nghiệp.
- - Hạn trả nợ gốc:
- + Ngày 10/02/2021 đến hạn: 700.000.000 đồng.
- + Ngày 10/02/2021 đến hạn: 80.000.000 đồng
- - Lãi suất trong hạn là: 11%/năm.
- - Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn
* Ông Ngô D và bà Lâm Thị H thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp sau:
- Hợp đồng thế chấp số 68/HĐTC-2012, ngày 24/07/2012 đã được công chứng ngày 27/07/2012 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/08/2012, gồm:
- Quyền sử dụng 197,6 m² đất và tài sản khác gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 964, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng đã được đính chính thành ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Theo giấy chứng nhận số AÐ 828991 (Sổ vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 81913020171) do UBND Huyện V (nay là thị xã V) cấp ngày 07/07/2006.
- Quyền sử dụng 200 m² đất và tài sản khác gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 13, toạ lạc tại ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận số AI 093428 (Số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 81913020229) do UBND Huyện V (nay là thị xã V) cấp ngày 22/05/2007.
- Quyền sử dụng 234 m² đất và tài sản khác gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận số BB 064477 (Số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH00027) do UBND Huyện V (nay là Thị Xã V) cấp ngày 14/04/2010.
- Hợp đồng thế chấp số 72/HĐTC-2018, ngày 22/05/2018 đã được công chứng ngày 31/05/2018 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/06/2018, gồm:
- Quyền sử dụng 278 m² đất và tài sản khác gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 150, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận số BC 562974 (Số vào số cấp giấy chứng nhận: CH00136) do UBND Huyện V (nay là Thị Xã V) cấp ngày 03/06/2011.
- Quyền sử dụng 372,4m² đất và tài sản khác gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 197, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận số BC 562970 (Số vào số cấp giấy chứng nhận: CH00137) do UBND Huyện V (nay là thị xã V) cấp ngày 03/06/2011.
Trong quá trình vay vốn ông Ngô D và bà Lâm Thị H đã vi phạm các thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng tín dụng, không trả nợ ngân hàng đúng hạn nên ngày 20/02/2021, ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay của ông Ngô D và bà Lâm Thị H sang nợ quá hạn để xử lý.
Tính đến ngày 30/9/2024, ông Ngô D và bà Lâm Thị H còn nợ Ngân hàng thương mại Cổ phần S theo Hợp đồng Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019 tổng cộng là 1.145.334.723 đồng (trong đó: Nợ gốc 610.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 141.122.223 đồng, nợ lãi quá hạn: 394.212.500 đồng), và còn nợ lại Ngân hàng thương mại Cổ phần S theo Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN, ngày 11/07/2019 tổng cộng là 142.871.111 đồng (trong đó: Nợ gốc 80.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 14.177.778 đồng, lãi quá hạn: 48.693.333 đồng).
Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Ngô D và bà Lâm Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S toàn bộ số tiền tổng số tiền 1.288.205.834 đồng (trong đó: Nợ gốc 610.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 141.122.223 đồng, nợ lãi quá hạn: 394.212.500 đồng, tổng cộng 1.145.334.723 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019; Nợ gốc 80.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 14.177.778 đồng, lãi quá hạn: 48.693.333 đồng, tổng cộng 142.871.111 đồng – theo Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019). Đồng thời, yêu cầu ông Ngô D và bà Lâm Thị H phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng mà hai bên ký kết kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông Ngô D và bà Lâm Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S.
Trường hợp ông Ngô D và bà Lâm Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Ngô D và bà Lâm Thị H có địa chỉ tại ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Đối với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng thương mại Cổ phần S nhưng ông D và bà H không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông D và bà H và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Ngô D, bà Lâm Thị H cùng liên đới trả nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền 1.288.205.834 đồng (trong đó: Nợ gốc 610.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 141.122.223 đồng, nợ lãi quá hạn: 394.212.500 đồng, tổng cộng 1.145.334.723 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019; Nợ gốc 80.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 14.177.778 đồng, lãi quá hạn: 48.693.333 đồng, tổng cộng 142.871.111 đồng – theo Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019) và ông D, bà H phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Ngô D và bà Lâm Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.
[2] Bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H tại Hợp đồng Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019 và Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 13,4%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông D, bà bà H còn nợ lại tiền nợ gốc trong hai hợp đồng nêu trên là 780.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H thanh toán nợ nhưng ông D, bà H không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên Ngân hàng thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông D, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 30/9/2024 số tiền là 1.288.205.834 đồng (trong đó: Nợ gốc 610.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 141.122.223 đồng, nợ lãi quá hạn: 394.212.500 đồng, tổng cộng 1.145.334.723 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01-48/2019/GNN ngày 23/02/2019; Nợ gốc 80.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 14.177.778 đồng, lãi quá hạn: 48.693.333 đồng, tổng cộng 142.871.111 đồng – theo Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01-48/2019/GNN ngày 23/02/2019; Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S, ông Ngô D và bà Lâm Thị H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 68/HĐTC-2012 ngày 24/07/2012 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 72/HĐTC-2018 ngày 22/05/2018 dùng tài sản là các thửa số 964, 150, 197 cùng tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và thửa đất số 332, tờ bản đồ số 16 tọa lạc ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, thửa đất số 92, tờ bản đồ số 13 tọa lạc ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Các thửa đất này do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V) cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất thế chấp nêu trên thì: Tại thửa 964 hiện có tồn tại 01 phần căn nhà xưởng của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, cụ thể: Phần mái che có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, nền tráng ximăng, phần vách bên hông hướng tây xây một phần tường 10, còn lại là vách trống (hướng đông, hướng nam không có vách, hướng bắc giáp nhà xưởng) có chiều ngang 3,2m, chiều dài 8,5m; phần nhà xưởng có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, trần laphong, cửa sắt, nền tráng xi măng, vách xây tường 10 có chiều ngang 3,2m, chiều dài 21,5m. Tại thửa 150 có tồn tại một phần căn nhà xưởng của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, cụ thể: Phần mái che, có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, nền tráng ximăng, không có vách có chiều ngang 3,8m, chiều dài 8,5m; phần nhà xưởng có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, trần laphong, cửa sắt, nền tráng ximăng, vách xây tường 10, chiều ngang 3,8m, chiều dài 21,5m. Tại thửa 197 là đất trống. Thửa 92 có tồn tại căn nhà của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, có kết cấu: Mái tôn, cửa sắt, đồn tay gỗ + sắt, xà gồ sắt, nền lót gạch men + tráng ximăng, vách tôn thiếc + xây tường 10, nhà có chiều ngang 4,5m, chiều dài 18m, xây dựng năm 2012. Tại thừa 332 là đất trống. Toàn bộ các thửa đất nêu trên do ông Ngô D và bà Lâm Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông D, bà H đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 68/HĐTC-2012 ngày 24/07/2012 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 72/HĐTC-2018, ngày 22/05/2018 được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.
[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Ngô D và bà Lâm Thị H liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Ngô D và bà Lâm Thị H phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng S về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H.
Buộc ông Ngô D và bà Lâm Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền 1.288.205.834 đồng (trong đó: Nợ gốc 610.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 141.122.223 đồng, nợ lãi quá hạn: 394.212.500 đồng, tổng cộng 1.145.334.723 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019; Nợ gốc 80.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 14.177.778 đồng, lãi quá hạn: 48.693.333 đồng, tổng cộng 142.871.111 đồng – theo Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019). Ông Ngô D và bà Lâm Thị H phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 48/2019/HĐTDTL-CN ngày 21/02/2019 và Giấy nhận nợ số 01- 48/2019/GNN ngày 23/02/2019 và Hợp đồng tín dụng số 122/2019/HĐTDTL-CN ngày 23/05/2019 và Giấy nhận nợ số 01-122/2019/GNN ngày 11/07/2019 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Ngô D và bà Lâm Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và ông Ngô D, bà Lâm Thị H có nghĩa vụ bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 964 (mục đích sử dụng: ONT), diện tích 197,6m² thuộc tờ bản đồ số 06 tọa lạc ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 828991 do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H ngày 07/7/2006; thửa đất số 150 (mục đích sử dụng: ONT: 150m², CLN: 128m²), diện tích 278m² thuộc tờ bản đồ số 06 tọa lạc ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 562974 do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H ngày 03/6/2011; thửa đất số 197 (mục đích sử dụng: CLN), diện tích 372,4m² thuộc tờ bản đồ số 06 tọa lạc ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 562970 do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H ngày 03/6/2011; thửa đất số 92 (mục đích sử dụng: CLN), diện tích 200m² thuộc tờ bản đồ số 13 tọa lạc ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 093428 do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H ngày 22/5/2007; thửa đất số 332 (mục đích sử dụng: ONT: 40m², LUA: 194m²), diện tích 234m² thuộc tờ bản đồ số 16 tọa lạc ấp P, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 064477 do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Ngô D và bà Lâm Thị H ngày 14/4/2010 và tài sản gắn liền với đất gồm: Tại thửa 964 có 01 phần căn nhà xưởng của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, cụ thể: Phần mái che có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, nền tráng ximăng, phần vách bên hông hướng tây xây một phần tường 10, còn lại là vách trống (hướng đông, hướng nam không có vách, hướng bắc giáp nhà xưởng) có chiều ngang 3,2m, chiều dài 8,5m; phần nhà xưởng có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, trần laphong, cửa sắt, nền tráng xi măng, vách xây tường 10 có chiều ngang 3,2m, chiều dài 21,5m. Tại thửa 150 có một phần căn nhà xưởng của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, cụ thể: Phần mái che, có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, nền tráng ximăng, không có vách có chiều ngang 3,8m, chiều dài 8,5m; phần nhà xưởng có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, trần laphong, cửa sắt, nền tráng ximăng, vách xây tường 10, chiều ngang 3,8m, chiều dài 21,5m. Tại thừa 92 có tồn tại căn nhà của ông Ngô D và bà Lâm Thị H, có kết cấu: Mái tôn, cửa sắt, đồn tay gỗ + sắt, xà gồ sắt, nền lót gạch men + tráng ximăng, vách tôn thiếc + xây tường 10, nhà có chiều ngang 4,5m, chiều dài 18m để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 68/HĐTC-2012 ngày 24/07/2012 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 72/HĐTC-2018 ngày 22/05/2018.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Ngô D và bà Lâm Thị H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng thương mại Cổ phần S phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H liên đới chịu 50.646.175 đồng.
- Nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.444.563 đồng theo biên lai thu số 0008521 ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Ngô D và bà Lâm Thị H liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Ngô D và bà Lâm Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền 750.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Minh Tuấn |
Bản án số 197/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 197/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
