Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 197/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.

Thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Khánh

Bà Trần Thị Thu Vân.

Ông Phan Tấn Phát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lê Văn L, sinh năm 1987 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có vợ tên Phạm Hồng C, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/8/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 316/LTG-CSĐT-TH ngày 09/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

2. Phan Thị Bích M, sinh năm 1981 tại Khánh Hoà. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: công nhân. Trình độ học vấn: 5/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phan Danh T1 (đã chết) và bà Võ Thị B, sinh năm 1962. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo có chồng tên Huỳnh Văn T2, sinh năm 1968 và có 02 con, lớn sinh năm 2001 và nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/8/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 317/LTG-CSĐT-TH ngày 09/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

(Các bị cáo có mặt)

- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo L1: Luật sư Dương Đình H1, sinh năm 1965 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt).

Địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: 1/ Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1990. (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2/ Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1978. (Có mặt)

Thường trú: 563 đường số C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Địa chỉ: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 5/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Văn L đã cấu kết với Phan Thị Bích M thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Đỗ Văn T3, sinh năm: 1990, thường trú tại: E đường số C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1978, trú tại: ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai thông qua hình thức bán cơm thừa, cám phế để làm thức ăn cho cá. Cụ thể như sau:

* Đối với anh Đỗ Văn T3: L giới thiệu với anh T3 là quản lý Công ty G1 chuyên cung cấp suất ăn công nghiệp tại địa bàn các tỉnh phía Nam, được Công ty ủy quyền bán cơm thừa (từ các suất ăn Công ty G1 cung cấp). Tin lời L nên anh T3 đồng ý mua cơm thừa từ Lập.

Ngày 22/5/2023, L dẫn anh T3 vào bếp ăn của Công ty T7, ở Khu công nghiệp B giới thiệu đang cung cấp 19.000 suất ăn, bán cơm thừa giá 22.000.000 đồng/tháng, với điều kiện đặt cọc 04 tháng và trả trước 01 năm, trong 01 tháng sẽ ký hợp đồng thu mua cơm thừa. Anh T3 đồng ý và chuyển 80.000.000 đồng cho L qua tài khoản số 11678647 đứng tên Lê Văn L mở tại ngân hàng A. Ngày 23/5/2023 và ngày 24/5/2023, anh T3 lần lượt chuyển số tiền 130.000.000 đồng và 140.000.000 đồng cho L.

Ngày 05/6/2023, L tiếp tục dẫn anh T3 đến cổng một số Công ty tại Khu công nghiệp B và Khu công nghiệp B, huyện L giới thiệu có tổng cộng khoảng 18.000 suất ăn, bán cơm thừa với giá 20.000.000 đồng/tháng, với điều kiện đặt cọc 01 năm và trả tiền trước 01 năm, trong 01 tháng sẽ ký hợp đồng thu mua cơm thừa và được anh T3 đồng ý. Ngày 05/6/2023, ngày 06/6/2023 và ngày 07/6/2023, anh T3 lần lượt chuyển số tiền 132.000.000 đồng, 168.000.000 đồng, 50.000.000 đồng và số tiền 132.000.000 đồng cho L.

Ngày 16/6/2023, L giới thiệu với anh T3 có 12.000 suất ăn ở Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, bán cơm thừa với giá 13.500.000 đồng/tháng, với điều kiện đặt cọc 06 tháng. Anh T3 đồng ý và chuyển số tiền 81.000.000 đồng cho L.

Ngày 19/6/2023, L giới thiệu với anh T3 có 18.000 suất ăn tại Khu công nghiệp L và Khu công nghiệp B, bán cơm thừa với giá 17.000.000 đồng/tháng, với điều kiện đặt cọc 04 tháng và trả trước 01 năm. Anh T3 đồng ý và chuyển trước 50.000.000 đồng cho L. Lập nhiều lần yêu cầu anh T3 tiếp tục chuyển tiền để mua cơm thừa nhưng anh T3 không đủ tiền. Do muốn tiếp tục chiếm đoạt tiền của anh T3 nên L nói sẽ cho anh T3 mượn số tiền còn thiếu. Để anh T3 tin tưởng, L trao đổi về việc chuyển cho anh T3 số tiền còn thiếu rồi anh T3 chuyển lại đủ số tiền đặt cọc và trả trước để làm căn cứ báo cáo với Công ty. Anh T3 đồng ý nên ngày 22/6/2023, L chuyển cho anh T3 160.000.000 đồng rồi anh T3 tin tưởng chuyển lại cho Lập 222.000.000 đồng.

Ngày 22/6/2023, L giới thiệu với anh T3 có mối bán lòng gà phế, số lượng 02 - 03 tấn/ngày, đơn giá 3.500 đồng/kg, với điều kiện trả trước số tiền 210.000.000 đồng. Anh T3 đồng ý mua nhưng không có đủ tiền nên L chuyển cho anh T3 30.000.000 đồng để anh T3 tin tưởng chuyển lại cho L 210.000.000 đồng.

Để tiếp tục chiếm đoạt tiền của anh T3, L liên tục dẫn anh T3 đến trước các Công ty thuộc các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để giới thiệu bán cơm thừa. Anh T3 đồng ý mua theo yêu cầu L đưa ra, khi anh T3 không đủ tiền để đặt cọc, trả trước thì L sẽ chuyển cho anh T3 mượn số tiền còn thiếu để anh T3 tin tưởng và chuyển lại đủ tiền. Lập và anh T3 nhiều lần chuyển tiền để mua thức ăn thừa như sau: ngày 26/6/2023 và ngày 28/6/2023 anh T3 chuyển cho L 02 lần, mỗi lần 78.000.000 đồng; ngày 30/6/2023 L chuyển cho anh T3 15.000.000 đồng; ngày 01/7/2023, L chuyển cho anh T3 50.000.000 đồng rồi nhận lại 50.000.000 đồng; các ngày 05/7/2023, 06/7/2023 và 08/7/2023, anh T3 chuyển 04 lần trong đó 03 lần chuyển số tiền 50.000.000 đồng/lần và 01 lần chuyển số tiền 20.000.000 đồng; ngày 11/7/2023, L chuyển cho anh T3 số tiền 65.000.000 đồng.

Ngày 17/7/2023, L giới thiệu có lô hàng 175 tấn cám cá phế của Công ty T7, phường P, thành phố B bán giá 3.466 đồng/kg, với điều kiện trả trước số tiền 260.000.000 đồng. Anh T3 đồng ý nên chuyển khoản số tiền 40.000.000 đồng, đưa tiền mặt 220.000.000 đồng cho L.

Toàn bộ số tiền chiếm đoạt của anh T3, L tiêu xài cá nhân và kinh doanh tiền ảo thua lỗ hết. Khi đến thời hạn hứa hẹn ký hợp đồng thu mua cơm thừa với anh T3 thì L tự soạn mẫu hợp đồng thu mua thức ăn thừa gửi và báo anh T3 đã trúng đấu thầu, L nêu lý do còn công nợ với đơn vị thu mua cũ để thuyết phục anh T3 chờ thêm một thời gian nhằm mục đích che giấu hành vi phạm tội của mình.

Do L nhiều lần bị anh T3 truy hỏi nên L thừa nhận đã lừa anh T3 lấy tiền sử dụng cá nhân. Ngày 19/7/2023, L chuyển cho anh T3 200.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

* Đối với anh Nguyễn Văn P: L giới thiệu với anh P là quản lý bếp ăn của Công ty G1 chuyên cung cấp suất ăn công nghiệp cho các Công ty tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, có thể giúp anh P mua cơm thừa. Để tạo niềm tin, L dẫn anh P đến bếp ăn của nhiều Công ty thuộc địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai... và giới thiệu do Công ty G1 đang cung cấp suất ăn công nghiệp. Anh P tin tưởng nên đồng ý mua cơm thừa từ Lập, cụ thể:

- Ngày 22/6/2023, L giới thiệu với anh P có 18.000 suất ăn, giá bán 17.000.000 đồng/tháng, với điều kiện trả tiền trước 01 năm và trả tiền môi giới 50.000.000 đồng. Lập còn hỏi mượn thêm anh P số tiền 58.000.000 đồng. Anh P đồng ý nên chuyển số tiền 312.000.000 đồng cho L qua tài khoản số 11678647 tên Lê Văn L mở tại ngân hàng A.

- Ngày 30/6/2023, L dẫn anh P đến bếp ăn của một số Công ty để tạo niềm tin và giới thiệu bán thức ăn thừa, giá bán 15.000.000 đồng/tháng, với điều kiện trả trước 01 năm. Anh P đồng ý và chuyển 180.000.000 đồng cho L.

- Khoảng đầu tháng 7/2023, L giới thiệu với anh P mối bán 145 tấn cám tôm phế của Công ty (không rõ tên) thuộc KCN B, huyện L giá bán 4.700 đồng/kg, trả trước 277.000.000 đồng. Anh P đồng ý và ngày 04/7/2023 chuyển 02 lần số tiền là 40.000.000 đồng và 237.000.000 đồng cho L. Ngày 15/7/2023, L chụp hình kho cám phế, gửi cho anh P rồi nói giá cám phế đang tăng và yêu cầu anh P trả hết tiền mua 145 tấn cám tôm phế để giữ giá rồi lấy hàng dần. Anh P đồng ý và chuyển số tiền 404.500.000 đồng cho L. Do đã hứa giao hàng nhiều lần nhưng chưa giao nên ngày 17/7/2023, L mua 05 tấn cám tôm phế (với giá cao hơn giá đã thỏa thuận với anh P) rồi chở đến giao cho anh P để che dấu hành vi phạm tội của L.

- Ngày 18/7/2023, L tiếp tục giới thiệu có 170 tấn cám phế của Công ty T7, phường L, thành phố B bán với giá 4.100 đồng/kg. Anh P đồng ý mua nên ngày 18/7/2023 và 19/07/2023 lần lượt chuyển số tiền 200.000.000 đồng và 400.000.000 đồng cho L. Ngày 20/7/2023, để che giấu hành vi của mình, L mua 20 tấn cám phế của Công ty T7 (giá mua cao hơn giá thỏa thuận với anh P) để giao cho anh P.

- Ngày 21/7/2023, L giới thiệu có lô cám cá chẽm phế tại miền T, số lượng hơn 100 tấn, giá bán 5.100 đồng/kg. Anh P nói không đủ tiền nên L nói góp tiền mua chung. Anh P đồng ý và chuyển tiền theo yêu cầu của L như sau: ngày 21/7/2023 chuyển số tiền 60.000.000 đồng, ngày 26/7/2023 chuyển số tiền 18.000.000 đồng, ngày 28/7/2023 chuyển số tiền 24.500.000 đồng, ngày 07/8/2023 chuyển số tiền 100.000.000 đồng.

Sau khi nhận tiền của anh P, L không mua cơm thừa, cám phế theo thỏa thuận mà tiêu xài cá nhân và kinh doanh tiền ảo thua lỗ nên không có hàng để giao. Khi đến thời hạn theo thỏa thuận với anh P thì L nói đã nộp tiền cho các Công ty nhưng do phát sinh vấn đề trong quá trình thanh lý hợp đồng với đơn vị thu mua cũ nên chưa giao hàng cho anh P, L cam kết sẽ tiếp tục làm việc với các Công ty để sớm giao hàng. Lập viết và ký giấy xác nhận đã nhận tiền của anh P để làm tin.

Sau đó, L biết không thể tiếp tục trực tiếp đứng ra lừa anh P nên nhờ Phan Thị Bích M (là đầu bếp Công ty Y, KCN N, huyện N, tỉnh Đồng Nai) giả làm quản lý của Công ty cung cấp suất ăn công nghiệp để đứng tên trên hợp đồng bán cơm thừa cho anh P. Do L từng xin việc làm cho M nên M đồng ý giúp L để trả ơn. Lập hướng dẫn M cách thức trao đổi, nói chuyện để lừa anh P. Lập đặt trên mạng 02 con dấu tên Công ty M2 và Công ty Một thành viên M2 với giá 200.000 đồng/con dấu để làm hợp đồng giả với anh P. L nói với anh P có quen M là Tổng quản lý khu vực phía Nam của Công ty M2 chuyên cung cấp suất ăn công nghiệp có thể bán cơm thừa cho anh P. Sau đó L dẫn anh P gặp M để giới thiệu, trao đổi.

Ngày 21/8/2023, theo hướng dẫn của L, Mai báo với anh P có 9.000 suất ăn công nghiệp tại Công ty Y - KCN N, bán cơm thừa với giá 118.000.000 đồng/năm. Anh P tin tưởng nên chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho M vào tài khoản số 1033776697 đứng tên Phan Thị Bích M mở tại ngân hàng V để đặt cọc. Ngày 22/8/2023, L dẫn anh P vào bếp ăn của Công ty YKK gặp M để tạo niềm tin, sau đó anh P chuyển tiếp số tiền 68.000.000 đồng cho M. M hẹn anh P đến ngày 30/8/2023 bắt đầu giao cơm thừa. Sau khi nhận tiền của anh P thì M chuyển khoản lại toàn bộ số tiền trên cho L.

Ngày 26/8/2023, theo hướng dẫn của L, Mai báo với anh P có 8.000 suất ăn công nghiệp tại Công ty J1, N, J, M1, Thép S bán cơm thừa với giá 8.800.000 đồng/tháng, trả tiền trước 01 năm. Lập dẫn anh P đến trước cổng các Công ty để giới thiệu. Anh P đồng ý mua nên L và anh P đến Công ty Y gặp M để ký hợp đồng. Lập soạn trước hợp đồng đưa cho M ký tên và đóng dấu Công ty suất ăn công nghiệp Tân Phát T4, khi gặp anh P thì M đưa hợp đồng cho anh P ký bổ sung. Sau khi ký hợp đồng xong, anh P chuyển số tiền 105.600.000 đồng cho M. M hẹn đến ngày 12/9/2023 sẽ bắt đầu giao cơm thừa. Sau khi nhận tiền của anh P thì M chuyển khoản lại toàn bộ số tiền trên lại cho L.

Ngày 28/8/2023, theo hướng dẫn của L, Mai báo với anh P có 14.000 suất ăn công nghiệp tại Công ty J2, T, L2, P1, N, Z, K, N1, B1, G; bán cơm thừa với giá 12.000.000 đồng/tháng, trả trước 01 năm. Lập dẫn anh P đến trước cổng Công ty để giới thiệu. Anh P đồng ý mua nên đã gặp M đặt cọc trước số tiền 40.000.000 đồng (chuyển khoản 30.000.000 đồng và đưa tiền mặt 10.000.000 đồng). Chiều ngày 29/8/2023, L đi cùng anh P đến gặp M tại trước Khu công nghiệp T, thành phố B để ký hợp đồng. Lập soạn trước hợp đồng đưa cho M ký tên và đóng dấu Công ty suất ăn công nghiệp Tân Phát T4. Khi gặp anh P thì M đưa hợp đồng cho anh P ký bổ sung. Sau đó anh P chuyển số tiền 128.000.000 đồng cho M. M hẹn đến ngày 27/9/2023 sẽ bắt đầu giao cơm thừa. Sau khi nhận tiền của anh P thì M chuyển khoản lại toàn bộ số tiền trên cho L.

Sáng ngày 30/8/2023, anh P liên hệ M để lấy cơm thừa tại Công ty Y như đã thỏa thuận thì M nêu lý do trì hoãn. Anh P kiểm tra lại hợp đồng ký với M thì thấy tên Công ty thể hiện trong hợp đồng là Tân Phước T5 nhưng con dấu là Tân Phát T4 nên nghi ngờ bị lừa. Ngày 31/8/2023, anh P yêu cầu L đi cùng đến phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp M. Tại đây, M và L thừa nhận đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh P nên anh P cùng M và L đến Công an phường P thừa nhận hành vi của mình.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) con dấu có chữ: Công ty M2.
  • - 01 (một) con dấu có chữ: Công ty Một thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 79H2-014.40, số loại Vision, hiệu honda, màu đỏ, số khung RLHJK0310MZ372054, số máy JK03E-6084312 thu giữ của Phan Thị Bích M.
  • - 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ Galaxy A33 5G, màu đen, số Seri: RFCT32LT3AE của Phan Thị Bích M.
  • - 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ Oppo A77S, kiểu máy: CPH2743 của Lê Văn L.
  • - 01 (một) Hợp đồng dịch vụ thu mua cơm thừa số 0201/2023/HĐTM đề ngày 26/8/2023 có chữ ký của Phan Thị Bích M và con dấu Công ty M2 (lưu hồ sơ vụ án).
  • - 01 (một) Hợp đồng dịch vụ thu mua cơm thừa số 0201/2023/HĐTM đề ngày 29/8/2023 có chữ ký của Phan Thị Bích M và con dấu Công ty M2 (lưu hồ sơ vụ án).

* Về dân sự:

Lê Văn L đã khắc phục cho anh Đỗ Văn T3 200.000.000 đồng. Anh T3 yêu cầu L trả số tiền còn lại là: 1.512.000.000 đồng.

Lê Văn L đã giao cho anh Nguyễn Văn P 20 tấn cám cá phế và 05 tấn cám tôm phế (tương đương 105.500.000 đồng). Anh P yêu cầu L tiếp tục trả số tiền còn lại là: 1.812.500.000 đồng và M trả số tiền 391.600.000 đồng.

* Tại cáo trạng số: 73/CT-VKS-P2 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố Lê Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự; Truy tố Phan Thị Bích M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo M từ 05 (năm) đến 07 (bảy) năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dấu có chữ: Công ty M2 và 01 (một) con dấu có chữ: Công ty Một thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ Galaxy A33 5G, màu đen, số Seri: RFCT32LT3AE của Phan Thị Bích M và 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ OPPO A77S, kiểu máy: CPH2743 của Lê Văn L đã sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Trả lại cho ông Huỳnh Văn T2 01 (một) xe mô tô biển số 79H2-014.40, số loại Vision, hiệu honda, màu đỏ, số khung RLHJK0310MZ372054, số máy JK03E-6084312 do không liên quan đến việc phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải trả lại số tiền theo yêu cầu của bị hại.

- Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo L: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú; bị cáo trưởng thành nhưng chưa nhận thức chính chắn, vì ham muốn làm giàu một cách mơ hồ mà dẫn đến hành vi phạm tội; đã tự nguyện bồi thường một phần tài sản cho bị hại; bị cáo có cha mẹ tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến; người phạm tội tự thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở lại cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2] Về tội danh và áp dụng điều luật:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận: Từ ngày 22/5/2023 đến ngày 29/8/2023, do cần tiền sử dụng cá nhân nên Lê Văn L đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Lập cung cấp thông tin gian dối có thể cung cấp thức ăn thừa, lòng gà, cám phế để làm thức ăn cho cá để các bị hại Đỗ Văn T3 và Nguyễn Văn P tin tưởng, giao tiền rồi chiếm đoạt, cụ thể: L đã chiếm đoạt của anh Đỗ Văn T3 số tiền 1.712.000.000 đồng, chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn P số tiền 2.309.600.000 đồng. Tổng số tiền Lê Văn L đã chiếm đoạt của các bị hại là 4.021.600.000 đồng. Hành vi của L phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Từ ngày 21/8/2023 đến ngày 29/8/2023, do muốn trả ơn Lê Văn L đã xin việc giúp nên Phan Thị Bích M đồng ý giả làm Tổng quản lý Công ty cung cấp suất ăn công nghiệp Tân Phước T5, đưa ra thông tin gian dối có thể cung cấp thức ăn thừa để anh Nguyễn Văn P tin tưởng chuyển nhiều lần với tổng số tiền 391.600.000 đồng cho M rồi M chuyển toàn bộ số tiền này cho L để chiếm đoạt.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Lê Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự; Hành vi của Phan Thị Bích M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đủ nhận thức và biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ các bị cáo là người coi thường pháp luật. Trong vụ án Lê Văn L là người chủ mưu và trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Phan Thị Bích M là người giúp sức cho Lê Văn L thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L đã tự nguyện bồi thường một phần tài sản cho bị hại, bị cáo có cha mẹ tham gia kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dấu có chữ: Công ty M2 và 01 (một) con dấu có chữ: Công ty Một thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ Galaxy A33 5G, màu đen, số Seri: RFCT32LT3AE của Phan Thị Bích M và 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ OPPO A77S, kiểu máy: CPH2743 của Lê Văn L đã sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Trả lại cho ông Huỳnh Văn T2 01 (một) xe mô tô biển số 79H2-014.40, số loại Vision, hiệu honda, màu đỏ, số khung RLHJK0310MZ372054, số máy JK03E-6084312 do không liên quan đến việc phạm tội.

[6] Về bồi thường dân sự:

Anh Đỗ Văn T3 yêu cầu bị cáo L trả số tiền 1.512.000.000 đồng; Anh Nguyễn Văn P yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền 1.812.500.000 đồng và yêu cầu M trả số tiền 391.600.000 đồng.

Tại phiên toà bị cáo L đồng ý trả lại số tiền cho bị hại. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo L trả lại cho anh Đỗ Văn T3 1.512.000.000 đồng, trả lại cho anh Nguyễn Văn P 1.812.500.000 đồng.

Bị cáo M không đồng ý trả lại cho anh Nguyễn Văn P số tiền 391.600.000 đồng vì cho rằng số tiền này bị cáo đã chuyển cho L nên bị cáo không có trách nhiệm trả cho anh P. Tuy nhiên, xét thấy anh P ký hợp đồng và chuyển tiền cho bị cáo M, do đó anh P yêu cầu M trả lại tiền là có cơ sở. Cần buộc bị cáo M phải trả cho anh P số tiền 391.600.000 đồng. Bị cáo M có quyền khởi kiện đối với bị cáo L trong vụ án dân sự khác.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về những vấn đề khác liên quan:

Đối với hành vi Lê Văn L đặt làm 02 con dấu Công ty M2 và Công ty M2 thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6, giao cho Phan Thị Bích M để làm hợp đồng với anh P. M đã sử dụng con dấu Công ty M2 để đóng trên 02 Hợp đồng dịch vụ thu mua cơm thừa với anh P.

Ngày 16/7/2024, Hội đồng xét xử ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 29/2024/HSST-QĐ để xác minh, làm rõ hành vi của Lê Văn L đặt làm 02 con dấu Công ty M2 và Công ty M2 thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6 có dấu hiệu của tội “ Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” hay không. Tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và cho rằng trên thực tế không tồn tại 02 Công ty trên. Đây là thủ đoạn gian dối để các đối tượng chiếm đoạt tài sản của anh P. Do đó hành vi của L và M không cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức”.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[10] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

  • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Lê Văn L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2023.

  • - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Bích M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Phan Thị Bích M 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 579, 580 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Văn L trả lại cho anh Đỗ Văn T3 1.512.000.000 đồng (một tỷ năm trăm mười hai triệu đồng); trả lại cho anh Nguyễn Văn P 1.812.500.000 đồng (một tỷ tám trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Phan Thị Bích M trả lại cho anh Nguyễn Văn P 391.600.000 đồng (ba trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) con dấu có chữ: Công ty M2 và 01 (một) con dấu có chữ: Công ty Một thành viên suất ăn công nghiệp Tâm Phước T6.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ Galaxy A33 5G, màu đen, số Seri: RFCT32LT3AE và 01 (một) điện thoại di động có ghi chữ OPPO A77S, kiểu máy: CPH2743.

Trả lại cho ông Huỳnh Văn T2 01 (một) xe mô tô biển số 79H2-014.40, số loại Vision, hiệu honda, màu đỏ, số khung RLHJK0310MZ372054, số máy JK03E-6084312.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Văn L phải nộp 98.490.000 đồng (chín mươi tám triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Phan Thị Bích M phải nộp 19.580.000 đồng (mười chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Lê Văn L, Phan Thị Bích M; Bị hại anh Đỗ Văn T3 và anh Nguyễn Văn P có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T2 vắng mặt tại phiên toà được kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - PV06, Cơ quan điều tra -Công an tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Phòng KTNV & THAHS (1);
  • - Trại Tạm giam –Công an tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cục THA dân sự tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Bị hại (2);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1)
  • - Lưu (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 197/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn L + đp phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger