Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 9 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hòa.
  2. Ông Nguyễn Thiện Pháp.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Phạm Thị Thanh N, sinh năm 2000 (có mặt).
  2. Địa chỉ: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 2000 (có mặt).
  4. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh N (sau đây gọi là bà N) trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà N với ông Nguyễn Hồng T (sau đây gọi là ông T) tiến đến hôn nhân vào năm 2021, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện T, tỉnh An Giang ngày 27/4/2023. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được một con chung Nguyễn Quốc A, sinh ngày 11/11/2021. Đến tháng 3 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh phát sinh mâu thuẫn, do ông T không quan tâm đến gia đình, từ đó thường xuyên cãi vã và có lần xô xát nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 7 năm 2023, bà N đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với ông T nhưng do ông T hứa sẽ khắc phục khuyết điểm để lo cho gia đình nên bà N rút lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau thời gian đó vợ chồng vẫn không hòa hợp được nên ly thân từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông T; về con chung, do cháu Nguyễn Quốc A đang sống chung với ông T nên bà N đồng ý cho ông T tiếp tục nuôi con (bà N không cấp dưỡng); về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại tờ tự khai ngày 08 tháng 8 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hồng T trình bày: ông T thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian chung sống, thời gian đăng ký kết hôn, cũng như thống nhất về con chung. Ông T thừa nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, có lần còn xô xát nhau và ly thân từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Tuy nhiên, ông T không đồng ý ly hôn với bà N vì cho rằng vẫn còn tình cảm vợ chồng; về con chung, do cháu Nguyễn Quốc A đang sống chung với ông T nên ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà N cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh N.

  • + Về hôn nhân: bà Phạm Thị Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T.
  • + Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Quốc A, sinh ngày 11/11/2021 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng; bà N không cấp dưỡng nuôi con.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
  • + Về án phí: bà N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu ly hôn với ông T và yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vì vậy, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông T có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông T tiến đến hôn nhân từ năm 2021, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã T, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41, ngày 27/4/2023. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà N, ông T phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà N thấy rằng, bà và ông T sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Mặc dù được gia đình động viên, hòa giải nhưng vẫn không có kết quả, từ đó quan hệ hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà N và ông T sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay.

Bị đơn ông T thừa nhận quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, có vài lần xô xát nhau. Tuy nhiên, ông T vẫn còn tình cảm với bà N nên ông không đồng ý ly hôn.

[2.2] Tại phiên hòa giải ngày 08/8/2024, ông T đề nghị tạm ngừng phiên hòa giải để ông có thời gian trao đổi với bà N. Vì vậy, Tòa án tạm ngừng phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông T, bà N có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 20/8/2024, bà N xác định tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T.

[2.3] Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 14/8/2024, được đại diện khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang cung cấp thông tin như sau: bà N và ông T tiến đến hôn nhân vào năm 2021 và chung sống tại khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Quốc A, sinh ngày 11/11/2021. Khoảng tháng 4 năm 2024, ông T không còn sống chung với bà N; mâu thuẫn gia đình thì địa phương không biết rõ.

[3] Từ những nhận định tại mục [2], xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[4] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Quốc A, sinh ngày 11/11/2021. Bà N và ông T thống nhất thỏa thuận giao cháu Nguyễn Quốc A cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; bà N không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, sự thỏa thuận của bà N và ông T là hoàn toàn tự nguyện và đúng quy định khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này, giao cháu Nguyễn Quốc A cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh N.
    1. Về hôn nhân: bà Phạm Thị Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T.
    2. Về con chung: bà N và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Quốc A, sinh ngày 11/11/2021.
    3. Công nhận sự thoả thuận về người trực tiếp nuôi con của bà Phạm Thị Thanh N và ông Nguyễn Hồng T. Giao cháu Nguyễn Quốc A cho ông Nguyễn Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu Quốc A đang sống chung với ông T). Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con.

      Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

    4. Về tài sản chung: không có.
    5. Về nợ chung: ghi nhận bà N và ông T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Phạm Thị Thanh N và ông Nguyễn Hồng T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phạm Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0014076 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà N đã nộp đủ).
  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND huyện Thoại Sơn;

- Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;

- Các đương sự (để thi hành);

- UBND xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn,

tỉnh An Giang (để biết);

- Lưu Văn phòng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 197/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu được ly hôn với ông T; về con chung, do cháu Nguyễn Quốc A đang sống chung với ông T nên bà N đồng ý cho ông Thìn tiếp tục nuôi con (bà N không cấp dưỡng); về tài sản chung và nợ chung: không có.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger