Hệ thống pháp luật

KONG THỦA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Liêm.
  2. Bà Trần Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 537/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 573/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Yến Trinh, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số 284, đường Lê Hoàn, khóm Bình Khánh 7, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt; có Đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 284, đường Lê Hoàn, khóm Bình Khánh 7, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 7 năm 2023, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phan Thị Yến Trinh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2003, bà với ông Nguyễn Thanh Tùng nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau. Ông bà có tổ chức lễ cưới vào ngày 27/02/2003 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 26/02/2008. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Tùng thường xuyên xúc phạm bà bằng những lời lẽ khó nghe. Mặc dù sống chung nhà nhưng mỗi người đều có cuộc sống riêng; không ai quan tâm đến ai. Do tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn nên bà Trinh yêu cầu được ly hôn với ông Tùng.

Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Minh Trí, sinh ngày 24/11/2008, hiện nay đang sinh sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Không yêu cầu ông Tùng cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Tùng đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án và gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Tùng đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Tùng vẫn vắng mặt; không rõ lý do.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án,

Nguyên đơn bà Phan Thị Yến Trinh có Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 14/11/2023.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh Tùng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.

Tại Văn bản trình bày ý kiến của con chung là cháu Nguyễn Minh Trí vào ngày 09/11/2023 có nội dung thể hiện nguyện vọng của cháu Trí là mong muốn Tòa án xem xét cho cháu được tiếp tục sống chung với mẹ ruột là bà Trinh trong trường hợp Tòa án chấp nhận cho bà Trinh được ly hôn với ông Tùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Phan Thị Yến Trinh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Tùng và có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Bị đơn trong vụ án là ông Nguyễn Thanh Tùng có nơi cư trú tại số 284, đường Lê Hoàn, khóm Bình Khánh 7, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Tùng theo quy định tại các Điều 175, Điều 177 và Điều 179 BLTTDS nhưng ông Tùng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS. Do đó, lời trình bày và chứng cứ mà bà Trinh cung cấp là cơ sở để HĐXX xác định hôn nhân giữa bà Trinh và ông Tùng là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận nhưng vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn làm cho vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau là có thật. HĐXX xét thấy, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tự nguyện của vợ hoặc chồng, cả bà Trinh và ông Tùng đều đã vi phạm nghiêm trọng Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa của vợ chồng dành cho nhau. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà Trinh với ông Tùng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà Trinh yêu cầu được ly hôn với ông Tùng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận.

Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Minh Trí, sinh ngày 24/11/2008, hiện đang sống chung với bà Trinh. Xét thấy, dưới sự chăm sóc, nuôi dưỡng của bà Trinh, cháu Trí vẫn sống ổn định và phát triển bình thường, cho nên việc tiếp tục nuôi con chung của bà Trinh là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên chấp nhận; ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, ông Tùng không trực tiếp nuôi con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Trinh không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết; tuy nhiên, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thỏa thuận; không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Trinh phải chịu án phí sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Trinh đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002335, ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Tùng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Yến Trinh được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Tùng.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Trí, sinh ngày 24/11/2008 cho bà Phan Thị Yến Trinh được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi hai con chung thành niên, trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn Thanh Tùng không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Phan Thị Yến Trinh không yêu cầu.
  3. Bà Phan Thị Yến Trinh cùng các thành viên trong gia đình phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông Nguyễn Thanh Tùng trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai có quyền ngăn cấm. Việc thăm nom con chung không được làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của con.

  4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về quan hệ nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Bà Phan Thị Yến Trinh phải chịu án phí sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Trinh đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002335, ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Tùng không phải chịu án phí.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS Tp. Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Mỹ Hòa, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 537/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 537/2023/TLST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger