Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNHCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 197/2024/DS-ST
Ngày: 17/4/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Kim Phượng

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ
  2. Ông Nguyễn Đình Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 568/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87.1/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 03 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; trụ sở: đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Lâm A, sinh năm 1996 (theo Giấy ủy quyền số 174/GUQ-NHNo.TĐ-TH ngày 09/3/2023); địa chỉ: đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Ông Lê Hữu H, sinh năm 1973; địa chỉ: đường T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/07/2021, Ngân hàng N (dưới đây gọi là Ngân hàng) và ông Lê Hữu H ký kết Hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 vay số tiền 400.000.000 đồng; từ ngày 10/01/2022, ông Lê Hữu H đã vi phạm hợp đồng không thanh toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với khách hàng, đôn đốc và tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng ông Lê Hữu H vẫn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2023, ông H còn nợ cụ thể như sau: Số tiền nợ gốc còn phải trả là: 373.600.000 đồng, lãi 68.832.229 đồng. Tổng nợ gốc lãi là: 442.432.229 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu, bốn trăm ba mươi hai ngàn, hai trăm hai mươi chín đồng).

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Hữu H phải trả ngay toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng N. Tạm tính đến ngày 19/01/2024 là 485.947.894 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi lăm triệu, chín trăm bốn mươi bảy ngàn, tám trăm chín mươi bốn đồng), trong đó: nợ gốc 373.600.000 đồng, lãi trong hạn 101.467.703 đồng, lãi quá hạn 10.880.191 đồng. Ông Lê Hữu H còn tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 20/01/2024 đến khi trả hết nợ.

Bị đơn, ông Lê Hữu H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lên tòa trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà Lê Thị Lâm A đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng xác định khi giao kết cho vay Ngân hàng thỏa thuận, ký kết và cho cá nhân ông H vay tiền; không biết, không giao dịch với vợ của ông H. Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Lê Hữu H phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 ngày 30/7/2021, tính đến ngày 17/4/2024 là số tiền 500.397.161 đồng, trong đó: nợ gốc 373.600.000 đồng, lãi trong hạn 113.177.247 đồng, lãi quá hạn 13.619.914 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hữu H trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, ông Lê Hữu H còn tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 17/4/2024 đến khi trả hết nợ.

Bị đơn ông Lê Hữu H vắng mặt không rõ lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
  • - Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Pháp luật về tố tụng:

Ngân hàng N và ông Lê Hữu H có giao kết hợp đồng vay tài sản, ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bị đơn, ông Lê Hữu H có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lê Hữu H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có ý kiến hay yêu cầu gì, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

[2] Pháp luật về nội dung:

[2.1] Ngân hàng N yêu cầu ông Lê Hữu H trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 17/4/2024 là 500.397.161 đồng, trong đó: nợ gốc 373.600.000 đồng, lãi trong hạn 113.177.247 đồng, lãi quá hạn 13.619.914 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 ngày 30/7/2021 được ký kết giữa Ngân hàng N và ông Lê Hữu H; phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 06/8/2021 thể hiện ông Lê Hữu H ký kết Hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 với Ngân hàng N vay số tiền: 400.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất cho vay trong hạn: 13%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/lần, bằng lãi suất huy động tiền gửi 12 tháng trả lãi cuối kỳ (tại thời điềm điều chỉnh) cộng (+) tối thiểu 4.0%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay ban đầu của hợp đồng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, ngày 06/8/2021 Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng; tuy nhiên, ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo cam kết tại Điều 5 của hợp đồng nên ngày 10/01/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay của ông H sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng ông H vẫn không thực hiện. Ngày 22/3/2023 Ngân hàng ban hành thông báo chấm dứt cho vay và thu hồi toàn bộ số nợ vay chưa thanh toán.

Xét hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, việc thỏa thuận lãi vay, lãi trong hạn, quá hạn giữa các bên là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; căn cứ bảng tính nợ gốc, lãi của Ngân hàng, đối chiếu các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ thì ông Lê Hữu H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, số tiền còn nợ Ngân hàng tính đến ngày 17/4/2024 là 500.397.161 đồng, trong đó: nợ gốc 373.600.000 đồng, lãi trong hạn 113.177.247 đồng, lãi quá hạn 13.619.914 đồng. Do đó, ông Lê Hữu H có trách nhiệm trả số tiền nêu trên cho Ngân hàng phù hợp với quy định tại các điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi ông Lê Hữu H trả hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 ngày 30/7/2021.

[2.3] Thời hạn trả: Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hữu H trả một lần ngay khi án có hiệu lực. Hội đồng xét xử xét thấy ông Lê Hữu H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu, gây ảnh hưởng quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực là phù hợp và được chấp nhận.

[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông Lê Hữu H chịu án phí trên số tiền phải trả cho Ngân hàng nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 24.015.886 đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng N:

Ông Lê Hữu H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N số tiền 500.397.161 (Năm trăm triệu, ba trăm chín mươi bảy ngàn, một trăm sáu mươi mốt) đồng, trong đó: nợ gốc 373.600.000 (Ba trăm bảy mươi ba triệu, sáu trăm ngàn) đồng, lãi trong hạn 113.177.247 (Một trăm mười ba triệu, một trăm bảy mươi bảy ngàn, hai trăm bốn mươi bảy) đồng, lãi quá hạn 13.619.914 (Mười ba triệu, sáu trăm mười chín ngàn, chín trăm mười bốn) đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 ngày 30/7/2021 ký kết giữa Ngân hàng N và ông Lê Hữu H.

Thời hạn trả: Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tiền lãi được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 18/4/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 6223-LAV-202100217 ngày 30/7/2021 cho đến khi ông Lê Hữu H trả hết nợ.

2/ Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là 24.015.886 (Hai mươi bốn triệu, không trăm mười lăm ngàn, tám trăm tám mươi sáu) đồng do ông Lê Hữu H phải nộp.

Hoàn lại cho Ngân hàng N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.848.645 (Mười triệu, tám trăm bốn mươi tám ngàn, sáu trăm bốn mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0024182 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bành Kim Phượng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu ThủyNguyễn Đình TuấnBành Kim Phượng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 197/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hơp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger