Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 197/2024/DS-ST

Ngày: 14 - 06 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích, bà Lê Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 06 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2024/TTST-DS ngày 04 tháng 04 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 308/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 317/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1946. Địa chỉ: số G đường C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền cho bà H: Ông Nguyễn Lưu Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: I khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

2.Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1975, ông Nguyễn Thế H1, sinh năm 1955. Cùng địa chỉ: số A tổ C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn do ông Nguyễn Lưu Q trình bày:

Do quan hệ quen biết nên nhiều lần bà Nguyễn Thị H cho vợ chồng bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 vay tiền nhiều lần từ trước năm 2022, phía bị đơn trả tiền vốn, lãi cho bà H đầy đủ, qua các lần vay tiền. Với số tiền lớn nên vào các ngày 16/03/2022; 28/08/2022; 09/05/2022 hai bên lập biên nhận vay tiền đồng thời để bảo đảm số tiền vay nên ông H1 và bà D có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02515, ngày 19/10/2010 do UBND thành phố L cấp mang tên bà Phan Thị D. Trong quá trình vay tiền, phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà H khởi kiện yêu cầu bà D và ông H1 liên đới trách nhiệm trả số tiền 470.000.000đ, yêu cầu tính lãi từ ngày Tòa án thụ lý đến khi trả hết nợ cho bà H. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02512, ngày 19/10/2010 do UBND thành phố L cấp mang tên bà Phan Thị D 01 bản chính, bà H tự nguyện trả lại cho bà D và ông H1 tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết, bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 vắng mặt không có lý do, không có yêu cầu hòa giải vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa ông Trần Lưu Q1 trình bày: Bà H yêu cầu bà D và ông H1 liên đới trách nhiệm trả số tiền vốn 450.000.000đ; rút lại một phần yêu cầu về trách nhiệm liên đới của ông H1 trả cho bà H số tiền 20.000.000đ do ông H1 không ký tên vay số tiền 20.000.000đ của bà H, số tiền này do bà D vay của bà H, ông H1 không liên quan nên không đưa ra yêu cầu trách nhiệm liên đới. Về yêu cầu tính lãi bà H tự nguyện rút lại yêu cầu đối với các bị đơn. Riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02515, ngày 19/10/2010 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp mang tên bà Phan Thị D, phía bà H tự nguyện giao trả lại cho bị đơn tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Về phần tranh luận: ông Q1 không trình bày. Bị đơn vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, của đương sự tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 119, 463, 466, 469, 470 Bộ luật dân sự 2015. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà D và ông H1 liên đới trách nhiệm trả số tiền vốn 450.000.000đ. Buộc bà D trả số tiền 20.000.000đ. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về lãi suất. Đối với giao dịch thế chấp tài sản giữa bà H, bà D, ông H1 đề nghị vô hiệu. Phía bà H trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02515, ngày 10/10/2010 do UBND thành phố L cấp mang tên bà D, ông H1 (bản chính).

Về án phí, bị đơn nộp theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn do ông Nguyễn Lưu Q đại diện theo ủy quyền có mặt; Bị đơn bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 vắng mặt không có lý do, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, các thông báo cho các đương sự theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa bị đơn vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của bà H buộc bà D và ông H1 trả lại cho bà số tiền vốn 470.000.000đ, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật. Xét yêu cầu của bà H phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 nên quan hệ pháp luật được xét là tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hiện nay bị đơn có nơi cư trú phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

[3] Về nội dung vụ án: Xét các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:

[3.1] Đối với giấy nhận nợ ngày 16/03/2022 bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 ký tên ghi rõ họ tên đã nhận của bà Nguyễn Thị H số tiền 150.0000.000₫, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay một năm. Theo nguyên đơn trình bày, bà H chưa nhận tiền vốn, lãi. Bà H đã tìm cách liên hệ các bị đơn để giải quyết số tiền nợ nhưng cố tình né tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện giấy nhận nợ ngày 16/03/2022 được xác định là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi. Trong thời gian vay, bà H đã thông báo cho bị đơn biết về số tiền vốn, lãi theo thông báo về việc yêu cầu thanh toán nợ. Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 463, 466, khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự 2015 nên yêu cầu của bà H là có căn cứ chấp nhận, bà D và ông H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền vốn 150.000.000₫.

[3.2] Đối với giấy nhận nợ ngày 28/08/2022 bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 ký tên ghi rõ họ tên đã nhận của bà Nguyễn Thị H số tiền 250.0000.000₫, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay một năm. Theo nguyên đơn trình bày, bị đơn chưa thanh toán tiền vốn. Phía bà H đã tìm cách liên hệ các bị đơn để giải quyết số tiền nợ nhưng không kết quả. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện giấy nhận nợ ngày 28/08/2022 được xác định là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi. Trong thời gian vay, bà H đã thông báo cho bị đơn biết về số tiền vốn, lãi theo thông báo về việc yêu cầu thanh toán nợ ngày 28/08/2022. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền phù hợp quy định tại Điều 463, 466, khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự 2015 nên yêu cầu của bà H là có căn cứ chấp nhận, bà D và ông H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền vốn 250.000.000₫.

[3.3] Đối với giấy nhận nợ ngày 09/05/2022 bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 ký tên ghi rõ họ tên đã nhận của bà Nguyễn Thị H số tiền 50.0000.000₫, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay. Theo nguyên đơn trình bày, bà H chưa nhận tiền vốn, lãi. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện giấy nhận nợ ngày 09/05/2022 được xác định là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn và không có lãi. Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền phù hợp theo quy định tại Điều 463, 466, khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự 2015 nên yêu cầu của bà H là có căn cứ chấp nhận, bà D và ông H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền vốn 50.000.000₫.

[3.4] Theo giấy nhận nợ ngày 09/05/2022, có thể hiện nội dung vào ngày 09/06/2022 bà Phan Thị D có mượn (vay) 20.000.000đ của bà H. Bà Phan Thị D ký tên ghi rõ họ tên đã nhận của bà Nguyễn Thị H số tiền mượn 20.0000.000₫, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay. Theo nguyên đơn trình bày, bà D vay tiền của bà H; ông H1 không ký tên vay, không liên quan nên không yêu cầu ông H1 liên đới trách nhiệm cùng với bà D trả số tiền vốn 20.000.000đ. Qua xem xét tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện giấy nhận nợ ngày 09/06/2022 được xác định là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn và không có lãi. Phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 463, 466, khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự 2015 nên yêu cầu của bà H là có căn cứ chấp nhận, bà D có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vốn 20.000.000đ.

[4] Xét yêu cầu của bà H đối với bà Phan Thị D, ông Nguyễn Thế H1 về trách nhiệm liên đới trả số tiền 20.000.000đ và yêu cầu bà D, H1 trả tiền lãi tính lãi từ ngày Tòa án thụ lý đến khi trả hết nợ. Tại phiên tòa bà H do ông Q đại diện theo ủy quyền tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp quy định tại Điều 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xem xét đình chỉ một phần yêu cầu của bà H là phù hợp quy định pháp luật.

[5] Đối với việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất giữa bà H, bà D và ông H1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02512, ngày 19/10/2010 do UBND thành phố L cấp mang tên bà Phan Thị D. Phía nguyên đơn do ông Q đại diện theo ủy quyền trình bày và xác định tự nguyện giao lại giấy chứng nhận bản chính cho bị đơn tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện khi thực hiện giao dịch dân sự về thế chấp quyền sử dụng đất các bên đương sự không xác lập hợp đồng, không đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định tại Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 là không bảo đảm theo quy định pháp luật về giao dịch dân sự. Do đó, bà H trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D và ông H1 trên tinh thần tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc giao trả giấy chứng nhận tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền là phù hợp.

[6] Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các thông báo, quyết định theo quy định pháp luật cho bà D, ông H1 thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự để bảo vệ quyền lợi của ông bà, nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu chứng cứ có liên quan, không đưa ra yêu cầu phản tố đối với ý kiến yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật. Do đó, có căn cứ xem xét chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà D, ông H1 liên đới trách nhiệm trả số tiền 450.000.000đ, riêng bà D trả cho bà H số tiền vốn 20.000.000đ. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về yêu cầu trả số tiền lãi, trách nhiệm liên đới của ông H1 về trả số tiền vốn 20.000.000đ và ghi nhận sự tự nguyện của bà H trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D và ông H1 tại cơ quan có thẩm quyền là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, có đơn yêu cầu miễn án nên được xem xét miễn nộp theo quy định Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà D và ông H1 phải liên đới trách nhiệm nộp số tiền 22.000.000₫, riêng bà D phải nộp số tiền 1.000.000đ tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 179, 217, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; 233, 244, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Điều 119, 463, 466, 469, 470 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 12, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. -Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Phan Thị D, ông Nguyễn Thế H1.
    • +Buộc bà Phan Thị D, ông Nguyễn Thế H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 450.000.000đ (bốn trăm, năm mươi triệu đồng).
    • +Buộc bà Phan Thị D trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
  2. -Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Phan Thị D, ông Nguyễn Thế H1 về yêu cầu bà D và ông H1 liên đới trách nhiệm trả số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
  3. -Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Phan Thị D, ông Nguyễn Thế H1 về yêu cầu tính lãi từ ngày Tòa án thụ lý đến khi trả hết nợ cho bà H.
  4. -Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H giao (01 bản chính) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02515, ngày 19/10/2010 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp mang tên bà Phan Thị D tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, có đơn miễn án phí theo quy định pháp luật nên được miễn nộp tiền án phí.

Bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 liên đới trách nhiệm nộp số tiền 22.000.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Riêng bà Phan Thị D còn phải nộp thêm số tiền 1.000.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Phan Thị D và ông Nguyễn Thế H1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của các đương sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều hai luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. LX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 197/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐVTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger