|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2024/HSST Ngày: 11 - 7 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Tường Vy– Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2024/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST- HS ngày 04/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1963 (đã chết); bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1984; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004; nhỏ nhất sinh năm 2008); tiền sự: không
Tiền án:
- Ngày 22/6/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 194/2012/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2017, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 12/3/2013.
- Ngày 14/3/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2018/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/7/2019, đã đóng án phí vào ngày 30/7/2018;
- Ngày 27/9/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tuyên phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 54/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2023, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 cho đến nay. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị hại: Nguyễn Hoàng V, sinh năm; 1977, HKTT: khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1960; địa chỉ: 4 khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- + Bà Trần Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ B, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1983.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyễn Hoàng Nghĩa là người nghiện ma túy và không có công việc ổn định.
Vào khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 05/4/2024, Nguyễn Hoàng N điều khiển xe mô tô biển số 61L2 - 0549 (do bà Nguyễn Thị Thu C đứng tên sở hữu) đến khu vực chân C (thuộc địa phận thành phố B, tỉnh Đồng Nai) để tìm mua nợ ma túy về sử dụng, nhưng không gặp được người bán. Tại đây, N gặp đối tượng tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) và hai người rủ nhau đi tìm tài sản để sơ hở để trộm cắp rồi bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện N chở B trên xe mô tô, di chuyển từ chân C đến địa phận phường T, thành phố D, khoảng 07 giờ 40 phút, N và B nhìn thấy tiệm Phế liệu trên đường M - T, thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do anh Nguyễn Hoàng V làm chủ. Thấy tiệm không có ai trông coi, B xuống xe, mở cửa rào đi vào còn N đứng ngoài cảnh giới. B đi vào trong tiệm, lấy trộm 01 (một) khuôn sắt hình chữ U, nặng khoảng 6,5 kg (kích thước dài 100 x 50 x 20 cm) và bê ra bỏ lên xe, khi B bỏ khuôn sắt lên xe chuẩn bị tẩu thoát thì anh Nguyễn Văn G1 là người trông coi tiệm, phát hiện, truy hô, đối tượng B vứt khuôn sắt xuống vỉa hè, N nổ máy xe bỏ chạy thì bị anh G1 giằng co, làm ngã xe nhiều lần, N và B dựng xe lên, anh G1 dùng cây sắt đánh vào người N, N nhặt cây Cờ lê số 10 (rơi từ cốp xe của N) dơ lên để hù dọa anh G1, nhưng bị anh G1 đánh rơi Cờ lê. Sau đó, B chạy qua bên kia đường, N chạy theo nhưng bị anh G1 cùng người dân bắt giữ và trình báo Công an phường T, thành phố D, riêng đối tượng B chạy thoát.
Tại cơ quan Công an N khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Kết luận định giá tài sản số 62 ngày 10/4/2024 của hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố D xác định: tấm kim loại hình chữ U, kích thước 100x50x20cm, trọng lượng 6.7 kg có giá trị 43.550 đồng.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 khuôn sắt hình chữ U kích thước 100x50x20(cm), 01 cờ lê số 10.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, số loại TAURUS-16S4, dung tích xy lanh 113,7 cm³, Số khung: RLCS16S40CY030128, Số máy: 16SB-042493;
- - 01 biển số xe số 61L2 - 0549.
Cáo trạng số 228/CT-VKS-DA ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 khuôn sắt hình chữ U kích thước 100x50x20(cm), đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hoàng V. Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 1731, trả lại khung sắt trên cho anh V.
- Đối với 01 xe mô tô 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, số loại TAURUS-16S4, dung tích xy lanh 113,7 cm³, Số khung: RLCS16S40CY030128, Số máy: 16SB-042493, Nguyễn Hoàng N khai mua của một người (không rõ nhân thân, lai lịch) qua xác minh nguồn gốc xe máy, xác định số khung, số máy của xe không khớp với thông tin đăng ký biển số xe 61L2 - 0549 được gắn trên xe. Tại bản kết luận giám định số: 2548/KL-KTHS (SKSM) ngày 27/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: “Số khung, S1 máy không đổi, không phát hiện cắt hàn, đục sửa”. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu ba kì liên tiếp, nhưng không có người đến nhận. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội của đối tượng Nguyễn Hoàng N, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với Biển số xe được đăng ký với tên Nguyễn Thị Thu C, bà C đã bán chiếc xe mô tô mang biển số 61L2 - 0549 trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2016. Xét thấy, đây là biển số giả, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 cây Cờ lê số 10, xét thấy đây là vật liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu huỷ.
* Đối với đối tượng B (không rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành xác minh tại khu vực chân cầu H nhưng không xác định được đối tượng. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 3949 ngày 20/6/2024 để tiếp tục xác minh, làm rõ đối với đối tượng tên B.
*Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng V không yêu cầu bồi thường nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không tranh luận.
Tại đơn xin vắng mặt bị hại ông Nguyễn Hoàng V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hoàng N và bị hại ông Nguyễn Hoàng V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Căn cứ Điều 290, 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng.
[3] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Do cần tiền tiêu xài và tiền để mua ma túy sử dụng nên bị cáo N và đối tượng B (không rõ nhân thân, lai lịch) đã rủ nhau đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện N chở B trên xe mô tô, di chuyển từ chân C về phường T, thành phố D, khi đang di chuyển trên đường M - T thuộc địa phận khu phố Đ, phường T, thành phố D, N và B nhìn thấy tiệm phế liệu không có ai trông coi nên N đứng ngoài cảnh giới cho B lẻn vào lấy trộm 01 (một) khuôn sắt hình chữ U trị giá 43.550 đồng thì bị bắt quả tang, riêng B trốn thoát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định về việc trích xuất hình ảnh của camera, Biên bản xác định đại điểm, Sơ đồ hiện trường, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận định giá tài sản.... Bị cáo Nguyễn Hoàng N đã bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 43.550 đồng đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 “Đã bị kết án về tội này hoặc về một tội trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Do đó, cáo trạng số 228/CT-VKS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, mới tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: bị cáo có 03 tiền án và là người nghiện ma túy.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hoàng V không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 khuôn sắt hình chữ U kích thước 100x50x20(cm), đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng V, Cơ quan điều tra trả lại tài sản cho anh V là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô 01 xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, số loại TAURUS-16S4, dung tích xy lanh 113,7 cm³, Số khung: RLCS16S40CY030128, Số máy: 16SB-042493, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu ba kì liên tiếp, nhưng không có người đến nhận. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội của đối tượng Nguyễn Hoàng N, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với Biển số xe được đăng ký với tên Nguyễn Thị Thu C, bà C đã bán chiếc xe mô tô mang biển số 61L2 - 0549 trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2016. Xét thấy, đây là biển số giả, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 cây Cờ lê số 10 là vật liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[10] Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê số 10; 01 biển số xe số 61L2-0549;
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus-16S4, dung tích xy lanh 113,7cm³, số khung RLCS16S40CY030128; số máy 16SB-042433.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Kim Hoa |
Bản án số 197/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 197/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Ng bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản
