|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2025/HS-ST Ngày: 27-6-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoài Đức Huệ.
- Ông Nguyễn Văn Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu là thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S (số CCCD: [...]), sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 61 đường A, khu phố C, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị M; bị cáo có vợ là Nguyễn Đỗ Anh K, sinh năm 1984 và 02 con: lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/4/2025 đến ngày 06/4/2025 được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Công ty TNHH B.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lai Chang I – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lee Chien S1 – Chức vụ: Phó tổng giám đốc (Theo văn bản uỷ quyền ngày 01/01/2022)
Địa chỉ: Đường số F, khu công nghiệp A N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người phiên dịch cho ông Lee Chien S1 là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Đại diện bị hại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S làm nghề mua bán phế liệu tự do. Ngày 31/3/2025, Tsần Tắc V - Giám đốc Công ty TNHH MTV T9 (Gọi tắt là Công ty T9) gọi điện hỏi S có mua vải phế liệu của Công ty TNHH B (gọi tắt là Công ty B) hay không thì S đồng ý.
Vào khoảng 7 giờ 40 phút ngày 01/4/2025, Nguyễn Văn S thuê 04 xe tải gồm: xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-560.32 do Đỗ Văn T2, sinh năm 1984, ngụ tại Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa làm tài xế; xe ô tô tải biển kiểm soát 36C-303.72 do Đặng Trọng L, sinh năm 1999 ngụ tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An làm tài xế; xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-426.12 do Võ Văn T3, sinh năm 1992 ngụ tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An làm tài xế và xe ô tô tải biển kiểm soát 51D-167.65 do Trần Ngọc T4, sinh năm 1976 ngụ tại thôn Đ, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định làm tài xế. Ngoài ra, S thuê thêm 05 nhân công bốc xếp gồm Trương Minh Đ, sinh năm 1985, ngụ tại khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Hoàng Thanh T5, sinh năm 1993 ngụ tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; T6 (không rõ lai lịch), S2 (không rõ lai lịch), T7 (không rõ lai lịch) để bốc xếp vải phế liệu. Khi đến Công ty B thuộc Đường số F, Khu Công nghiệp N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam, S gọi điện thoại cho Tsần T8 Và rồi thương lượng giá thu mua vải phế liệu là 17.000 đồng/kg thì Tsần T8 Và đồng ý và kêu S vào Công ty B để lấy hàng. Lúc này, S nảy sinh lòng tham nên thực hiện hành vi gian dối khi cân phế liệu để thu lợi bất chính bằng cách: Khi cân xe trước khi vào lấy hàng thì S yêu cầu có 03 người ngồi trong cabin các xe ô tô để tăng trọng lượng trước khi vào lấy hàng, còn sau khi lấy hàng thì phải xuống hết người trong cabin để chiếm đoạt trọng lượng chênh lệch. Ngoài ra, trong quá trình cân xe sau khi đã lấy hàng, S còn chỉ đạo lấy bớt hàng từ 02 xe ô tô biển kiểm soát 36C-303.72 (chưa cân) và xe ô tô biển kiểm soát 61C-426.12 (chưa cân) qua xe ô tô tải biển kiểm soát 51D-167.65 (đã cân) nhằm chiếm đoạt vải phế liệu chưa cân. Để che dấu thủ đoạn trên Sinh đã nói dối với các tài xế và công nhân bốc vác là di chuyển phế liệu nhằm để tránh quá tải khi di chuyển.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác thuộc Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang S cùng với tang vật. Đồng thời, Công an tỉnh Đ đã tiến hành cân trọng lượng của 04 xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-560.32; 36C-303.72; 610-426.12; 51D-167.65 và xác định S đã chiếm đoạt của Công ty B là 1.590kg vải phế liệu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định: 1.590 kg vải phế liệu có giá trị: 15.900.000 đồng.
Về tang vật thu giữ:
- 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát số 61C-560.32, qua xác minh chủ sở hữu là ông Đỗ Văn T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho ông T2 là đúng với quy định của pháp luật.
- 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát số 36C-303.72, qua xác minh chủ sở hữu là ông Trương Văn H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho ông H là đúng với quy định của pháp luật.
- 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát số 61C-426.12, qua xác minh chủ sở hữu là bà Đỗ Thị Thu H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bà H1 là đúng với quy định của pháp luật.
- 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát số 51D-167.65, qua xác minh chủ sở hữu là bà Đỗ Thị N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bà N là đúng với quy định của pháp luật.
- Số vải phế liệu thu giữ khi bắt quả tang đã trả lại lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của Nguyễn Văn S làm chủ sở hữu, S sử dụng làm công cụ liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch)
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tình tiết, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 192/CT.VKS-NT ngày 05/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Lừa dối khách hàng” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của Nguyễn Văn S làm chủ sở hữu, S sử dụng làm công cụ liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo S không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Công ty TNHH B là bị hại vắng mặt tại phiên toà. Tuy nhiên, tại hồ sơ bị hại đã có lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, tài sản bị chiếm đoạt đã trả lại cho chủ sở hữu, công ty B không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào lúc 07 giờ 40 phút ngày 01/4/2025, tại Công ty TNHH B thuộc Đường số F, Khu Công nghiệp N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai trong quá trình thu mua vải phế liệu Nguyễn Văn S đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm tạo ra sai lệch trong việc tính toán trọng lượng khi cân hàng hóa để chiếm đoạt 1.590 kg vải phế liệu trị giá là 15.900.000 đồng của Công ty B.
Như vậy, hành vi của bị cáo S đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa dối khách hàng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị án tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa dối khách hàng nhằm chuộc lợi là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mới một mức án tương ứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã nhận thức được sự sai trái của mình, ăn năn hối cải, chấp hành tốt các chính sách pháp luật trong thời gian được tại ngoại nên Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt nên được hưởng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy cần: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của Nguyễn Văn S làm chủ sở hữu, S sử dụng làm công cụ liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/6/2025).
[10] Đối với Đỗ Văn T2, Đặng Trọng L, Võ Văn T3, Trần Ngọc T4 là tài xế chở vải phế liệu và Trương Minh Đ, Hoàng Thanh T5, T6 (không rõ lai lịch), S2 (không rõ lai lịch), T7 (không rõ lai lịch) là công nhân bốc hàng làm việc theo sự chỉ đạo của S. Đồng thời, S đã dùng những lời lẽ gian dối nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình nên những người trên không biết hành vi chiếm đoạt của S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đề nghị xử lý là đúng với quy định của pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
[12] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Lừa dối khách hàng”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của bị cáo S.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2025)
- Về án phí: Bị cáo S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Trang |
Bản án số 197/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội lừa dối khách hàng)
- Số bản án: 197/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Lừa dối khách hàng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S - Lừa dối khách hàng
