TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 197/2025/HS-PT
Ngày: 16-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Luyến.
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trí;
2. Ông Trần Vĩnh Yên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử -Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2025/TLPT-HS, ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Phan Tấn L, do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
* Bị cáo kháng cáo: Phan Tấn L – sinh năm 1958, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn S (đã chết) và bà Phan Thị N – sinh năm 1941; Có vợ là Dương Thị X (đã chết), có 03 (Ba) con; con lớn nhất sinh 1987, con nhỏ nhất sinh 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa: Luật sư Âu Trung H – thuộc Công ty TNHH MTV Q – Đoàn luật sư thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung vụ án và bản án hình sự sơ thẩm thể hiện: Nguyễn Bá C và Phan Tấn L là hàng xóm có đất sát bên nhà nhau, có mâu thuẫn về việc tranh chấp đất về lối đi chung tại ấp D, xã P, huyện T. Vào khoảng 06 giờ ngày 08/8/2022, ông Nguyễn Bá C đang ngồi làm vườn tại ấp D, xã P, huyện T. Lúc này, Phan Tấn L đi ngang qua khu vực ông C đang làm cỏ. Giữa ông C và ông L xảy ra cự cãi với nhau xuất phát từ việc giữa hai người có mâu thuẫn về lối đi chung. Lúc này, ông L nhặt 01 cục đá tổ ong to khoảng bằng bàn tay ném về phía ông C nhưng không trúng. Ông L tiếp tục nhặt 01 cục đá khác đánh vào đuôi mắt phải ông C. Tiếp đó, hai người vật lộn với nhau trên nền đất. Ông L tiếp tục dùng đá đánh vào đầu ông C. Lúc này, ông C bị chảy máu nên cắn vào
bắp tay ông L. Sau đó ông C bỏ chạy về nhà đi cấp cứu. Sự việc sau đó được trình báo đến cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 19/8/2022, ông Nguyễn Bá C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quá trình điều tra, bị can Phan Tấn L khai báo không thành khẩn, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về hậu quả: Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1008/TgT/2022 ngày 27/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận về ông Nguyễn Bá C như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo đuôi cung mày phải kích thước 1,5x0,1cm. Tỷ lệ 03%. Sẹo chẩm trái (sau tai trái) kích thước 0,5x0,1cm. Tỷ lệ 01%. Không định tỉ lệ cho sây sát da gò má phải và trán hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông Nguyễn Bá C là 04%.
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật tày.”
Quá trình giải quyết, Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung xác định cơ chế hình thành vết thương; tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ thu thập Hồ sơ bệnh án, Giấy chứng nhận thương tích, xác định vật chứng, vết máu tại hiện trường; xác định làm rõ thời điểm các biên bản tố tụng gồm Đơn trình báo và yêu cầu khởi tố, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc so với với diễn biến vụ việc và quy trình tiến hành tố tụng có phù hợp hay không; xác định và lấy lời khai làm rõ về nguồn gốc, thời gian, vị trí, địa điểm và người chụp hình ra bức ảnh, người đang chăm sóc, sơ cứu vết thương cho ông C theo hình ảnh và Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật ngày 27/8/2022.
Kết quả điều tra bổ sung xác định như sau:
- Về xác định cơ chế hình thành thương tích của bị hại:
Bản kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0703/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 31/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận về ông Nguyễn Bá C như sau: Vết thương đuôi chân mày phải hiện để lại sẹo đuôi cung mày phải kích thước 1,5x0,1cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng đuôi cung mày phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái gây nên. Vết thương da đầu sau tai trái hiện để lại sẹo chẩm trái (sau tai trái) kích thước 0,5x0,1cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng chẩm trái (sau tai trái) với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải gây nên. Sây sát da gò má phải và trán đã khỏi không để lại dấu vết. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng trán và vùng gò má phải với lực nhẹ gây nên. Vì hiện tại đã khỏi không để lại dấu vết nên không thể xác định được chiều hướng tác động.
Ngày 04/9/2024, Trung tâm P có công văn số 465/TTPY/2024 về việc giải thích kết luận giám định của Nguyễn Bá C như sau: “Vết thương đuôi chân mày phải hiện để lại sẹo đuôi cung mày phải kích thước 1,5x0,1cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng đuôi cung mày phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái gây nên, có hướng chếch từ trước ra sau và từ trên xuống dưới hoặc song song với bề mặt tổn thương gây nên. Vết thương da đầu sau tai trái hiện để lại sẹo chẩm trái (sau tai trái) kích thước 0,5x0,1cm. Tổn thương này do vật tày
tác động vào vùng chẩm trái (sau tai trái) với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải gây nên và có hướng từ sau ra trước gây nên”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường tổng cộng số tiền 17.203.967 đồng, cấp sơ thẩm chấp nhận buộc bị cáo bồi thường số tiền làm tròn là 17.204.000đ (Mười bảy triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng). Tuy nhiên trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng), đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, theo biên lai thu số: 0005533 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, nên ghi nhận.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo:
- - Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38, Điều 46; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Điều 106, Điều 155, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự;
- - Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phan Tấn L 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Tấn L có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Bá C số tiền 17.204.000đ (Mười bảy triệu hai trăm lẻ bốn nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 mũ kết đã bị rách màu hồng xám và 01 cái sạc lai cán bằng cây tầm vông, lưỡi bằng thép màu đen. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Bị cáo Phan Tấn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 860.200đ (T trăm sáu mươi nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ngày 10 tháng 01 năm 2025, bị cáo Phan Tấn L kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị giảm nhẹ hình phạt, chuyển án treo, phạt cải tạo không giam giữ.
* Ý kiến của Luật sư:
Tôi đồng ý với Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú là đúng người, đúng tội, tuy nhiên hình phạt 01 năm 06 tháng tù mà Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nặng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử cho thân chủ của tôi được hưởng án treo với lý do sau:
- - Thứ nhất: Cấp sơ thẩm đã không xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi quyết định hình phạt.
- - Thứ hai ông Phan Tấn L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý hành chính hay kỷ luật, ngoài lần phạm tội này do có hành vi quá khích thì ông Phan Tấn L luôn chấp hành quy định của pháp luật và chính sách của nhà nước.
- - Thứ ba ông Phan Tấn L có nơi cư trú rõ ràng. Việc cách ly ông Phan Tấn L ra khỏi xã hội là không cần thiết. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho ông Phan Tấn L, cho bị cáo được hưởng án treo.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, đường lối xử lý vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trị an. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, bị hại có 01 phần lỗi là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, 2 Điều 51 BLHS và xử phạt bị cáo L 01 năm 06 tháng tù là phù hợp không nặng như kháng cáo của bị cáo đã nêu.
- Những vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm: không.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo và cung cấp thêm một số tình tiết, chứng cứ mới để cấp phúc thẩm xem xét: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền theo nội dung của bản án sơ thẩm đã tuyên. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi của mình. Tuy nhiên do mức án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Vì các lẽ trên:
- - Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, 356 Bộ luật TTHS.
- - Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư, bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, ngoài những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo L có mặt tại phiên tòa.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã mô tả. Ngày 08/8/2022, tại ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn từ trước nên Phan Tấn L vật lộn với Nguyễn Bá C, trước đó có hành vi dùng cục đá (hung khí nguy hiểm) ném vào người ông Nguyễn Bá C nhưng không trúng, về thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 04%, cấp sơ thẩm áp dụng để xử phạt bị cáo là đúng quy.
Cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để xử phạt bị cáo như: Bị cáo trước khi phạm tôi chưa có tiền án, tiền sự; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường, khắc phục thiệt hại; Hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó cần phải xử lý theo pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo: Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Theo quy định của pháp luật cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, xét việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có điều kiện, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
[4]. Về bồi thường dân sự: Bị cáo Phan Tấn L có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Bá C, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Theo biên lại số 0005533 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú. Ông Nguyễn Bá C đến Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú nhận tiền bồi thường.
[5] Về án phí:
5.1. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo đã bồi thường dân sự nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6]. Ý kiến của người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị không chấp nhận kháng cáo, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết pháp luật, đã khắc phục hậu quả, nhân thân tốt, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Tấn L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2025/HS- ST, ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, do có tình tiết mới.
3. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: bị cáo Phan Tấn L 01( Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (16-4-2025).
Giao bị cáo Phan Tấn L cho U, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo Điều 92 của luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật tố tụng hình sự”.
4. Về bồi thường dân sự: Bị cáo Phan Tấn L có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Bá C số tiền 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng). Ông Nguyễn Bá C liên hệ Cục thi hành án dân sự huyện Định Quán, nhận tiền bồi thường. Theo biên lại số 0005535 ngày 15/4/2025 của Cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm : Bị cáo Phan Tấn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Ngọc Trí Trần Vĩnh Yên | Vũ Hồng Luyến |
Nơi nhận:
- - VKS tỉnh – VKS huyện;
- - PV 27-Công an tỉnh Đồng Nai;
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Luyến |
Bản án số 197/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 197/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Tấn L - Cố ý gây thương tích
