TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 197/2025/HNGĐ-ST Ngày 12-11-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương;
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
- Ông Phan Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 1989; thường trú: Ấp L, xã N, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Số F, H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; thường trú: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ; tạm trú: Số A, tổ A, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2025, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Thành Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị T tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy bản nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 233, quyển số 01/2014 ngày 17/11/2014. Sau khi kết hôn anh, chị sinh sống tại T, tỉnh Bình Dương.
Anh, chị chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc chia sẻ, bản thân anh Đ không có tiếng nói trong gia đình, mỗi lần cãi nhau chị T hay xúc phạm đến gia đình anh Đ. Mặc dù cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả nên anh Đ và chị T đã sống ly thân từ tháng 4/2025. Nay, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị T. Hiện tại anh Đ làm nghề tự do với mức thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/tháng đến 5.000.000 đồng/tháng, tuy nhiên, công việc của anh không ổn định. Do anh Đ làm công việc tự do nên không thể cung cấp bảng lương cho Tòa án.
Về con chung: Anh Đ đồng ý giao con chung Lê Thành D, sinh ngày 21/6/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp chị T yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con thì anh Đ yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T đồng ý với phần trình bày của anh Đ về quá trình chung sống và kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ thì chị T đồng ý ly hôn. Hiện nay chị T buôn bán tự do với mức thu nhập từ khoảng 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa, chị T xác định lại vợ chồng không có mâu thuẫn và mong muốn hai vợ chồng về đoàn tụ, nuôi dạy con chung nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Đ.
Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Lê Thành D, sinh ngày 21/6/2016. Do không đồng ý ly hôn nên chị T không yêu cầu giải quyết về con chung. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ, chị T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thành D và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung từ 3.000.000 đồng/tháng đến 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật; Về nội dung vụ án: nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Nhận thấy mâu thuẫn của anh Đ và chị T đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Về con chung: Hiện nay cháu Lê Thành D đang ở cùng với chị T, cháu D còn nhỏ cần được sự quan tâm, giáo dục, chăm sóc từ người mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu D cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, đề nghị anh Đ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu D số tiền 3.000.000/tháng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi; Về tài sản chung và nợ chung, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Lê Thành Đ khởi kiện bị đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn, chị T hiện đang sinh sống tại số A, tổ A, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2014, anh Lê Thành Đ và chị Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 233, quyển số 01/2014 ngày 17/11/2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Nguyên đơn xác định quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ, hiện vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2025. Chị T không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với anh Đ và mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm, về đoàn tụ nuôi dạy con chung. Tuy nhiên, chị T không đưa ra được phương án để hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời, từ tháng 4/2025 chị T và anh Đ không còn chung sống với nhau. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của anh Đ và chị T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Anh Đ đồng ý giao con Lê Thành D, sinh ngày 21/6/2016 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét, hiện cháu D còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc từ người mẹ, đồng thời từ khi vợ chồng ly thân, chị T là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con. Bản thân chị T có công việc, thu nhập ổn định, hơn nữa cháu D cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Anh Đ cũng đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo được vật chất, tinh thần, quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của con và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Lê Thành D cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng đến 5.000.000 đồng/tháng, bản thân anh Đ không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung. Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định: “cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tại Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “......Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Hiện nay anh Đ sinh sống tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, là vùng 1 với mức lương tối thiểu 4.960.000 đồng. Sau khi xem xét nhu cầu thiết yếu của con chung ở độ tuổi chưa thành niên và thu nhập của anh Đ, Hội đồng xét xử thấy mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng là phù hợp. Do đó, buộc anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung Lê Thành D, sinh ngày 21/6/2016 số tiền 2.500.000 đồng/tháng.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Đ và chị T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp một phần.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Thành Đ phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Thành Đ đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con".
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thành Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị T [Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 233, quyển số 01/2014 do Ủy bản nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang) cấp ngày 17/11/2014].
- Về con chung: Anh Lê Thành Đ giao con chung tên Lê Thành D, sinh ngày 21/6/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Thành Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.500.000đ (hai triệu đồng)/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Lê Thành D đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án
Sau khi ly hôn anh Lê Thành Đ và chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị T phải tạo điều kiện cho anh Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Thành Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0024871 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sư Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Lê Thành Đ còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
3. Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 197/2025/HNGĐ-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 197/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thành Đ- Nguyễn Thị T
