TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI ---------- | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC -------------------- |
Bản án số: 197/2023/HSST
Ngày: 29/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên. |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Thế Ngọc. |
| Ông Nguyễn Văn Hành. |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý – Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa:
Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 198/2023/HSST ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa ra xét xử số 198/2023/QĐXXST- HS ngày 06/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/HPT-QĐ ngày 22/11/2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Đặng Phi H, sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: không; Giới tính: Nam. Con ông: Ông Đặng Đình C, Con bà: Đoàn Thị T. Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ hai. D chỉ bản số 376 ngày 28/6/2023 Công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam ngày 19/06/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Vũ Văn N, sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: Tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 8/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: không; Giới tính: Nam. Con ông: Vũ Văn N1, Con bà: Nguyễn Thị H1. Gia đình có bị cáo là con duy nhất. Có vợ là Phạm Thùy D1, có 01 con sinh nam 2020. Tiền án, tiền sự: không. D chỉ bản số 374 ngày 28/6/2023 Công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam ngày 19/06/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại giam S – Công an thành phố H.
Nhân thân: Ngày 13/10/2009, bị công an huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Dùng thủ đoạn gian dối chiếm tài sản.
Bị can bị bắt khẩn cấp và tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/06/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Đặng Đình T1, sinh năm: 1984.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ngõ A, đường A, phường V, H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: không; Giới tính: Nam. Con ông: Ông Đặng Đình D2, Con bà: Vũ Thị T2. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ Bùi Thị P (đã ly hôn). D chỉ bản số 382 ngày 28/6/2023 Công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Ngày 21/4/2022, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 – Bộ luật Hình sự năm 2015 (Bản án sơ thẩm số 94/2022/HS-St), chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2023 (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 22/09/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194– Bộ luật Hình sự năm 199 (Bản án sơ thẩm số 51/2008/HS- ST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/2/2010 (đã xoá án tích).
Bị cáo đầu thú ngày 23/6/2023, bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam số 2- Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Anh Tạ Đình C1, sinh năm: 2002. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Số A đường A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện tại: 24/39 Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Chị Nguyễn Thùy C2, sinh năm: 2002. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Thôn L, Minh Q, huyện L, tỉnh Yên Bái.
Nơi ở hiện tại: 24/39 Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Tại bản cáo trạng: số 186/ CT-VKS TT ngày 30/10/2023,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Đặng Phi H, Vũ Văn N, Đặng Đình T1 về tội "Cướp tài sản" theo điểm a, d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đặng Phi H là chủ cho thuê phòng trọ có địa chỉ tại số nhà B, ngách H đường Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Ngày 20/05/2023, anh Tạ Đình C1 (sinh năm: 2002; nơi thường trú: số A đường A phường P, quận B, Hà Nội) đến thuê trọ phòng 203 tại nhà trọ của H với giá 3.800.000 đồng/tháng. Đến ngày 09/06/2023, anh C1 không thuê nhà của H nữa mà dọn đi nơi khác nhưng còn nợ H 3.000.000 đồng tiền thuê nhà và nợ N 130.000 đồng chưa trả. Đến ngày 16/06/2023, H và N bàn bạc và thống nhất H sẽ tìm cách gian dối anh để anh C1 đi lên tầng 7 của khu nhà trọ của H rồi N và H cùng đánh anh C1 để đòi lại tiền.
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19/06/2023, sau khi anh C1 liên lạc và hẹn H đến khu nhà trọ để lấy bếp và bình gas của anh C1 còn để tại đây thì H liền gọi điện thoại thông báo cho N để N đi lên tầng 7 của khu nhà trọ đợi trước. Lúc này, N đang đi cùng Đặng Đình T1 nên N rủ T1 cùng tham gia đánh anh C1 để đòi tiền và T1 đồng ý. Tiếp đó, N chuẩn bị sẵn 01 bình xịt hơi cay cho vào trong túi xách của N đang đeo trên người rồi cùng T1 đi đến tầng 7 khu nhà trọ của H. Khi lên đến tầng 7 N, T1 tìm xung quanh sân thượng và nhặt được 01 cây gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, đường kính 01cm và 01 cây gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm, đường kính 01cm và chờ tại đây.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, anh C1 và chị Nguyễn Thùy C2 (sinh năm: 2005; địa chỉ: thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái) cùng đi đến khu nhà trọ của H. Khi gặp nhau H đưa anh C1 và chị T3 đi lên tầng 07, đồng thời H nhắn tin thông báo cho N biết. Khi anh C1 và chị C2 vừa đi lên đến tầng 7 thì N lôi anh C1 vào trong góc rồi dùng gậy bằng kim loại đánh liên tiếp vào người anh C1. Chị C2 vào can ngăn thì bị T1 chặn lại. H tiếp tục dùng 01 đoạn ống nhựa chỉ vào mặt anh C1, yêu cầu anh C1 phải trả triền cho H. Lúc này, T1 đang đeo túi xách của N nên T1 lấy từ trong túi xách ra 01 bình xịt hơi cay và đe dọa anh C1 phải trả nợ tiền thuê trọ của H và tiền anh C1 còn nợ N. Bị khống chế và đe dọa anh C1 và chị C2 nói không có tiền nên các đối tượng yêu cầu anh C1 và chị C2 đưa cho H 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 của chị C2 và 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của anh C1. Anh C1 xin giữ lại 01 chiếc điện thoại để liên lạc, hứa sẽ trả tiền trong vài ngày tới nhưng H, N, T1 không đồng ý và bắt để lại cả hai chiếc điện thoại. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại của anh C1 và chị C2 thì các đối tượng cho anh C1 và chị C2 mang bếp gas, bình gas đi về.
Sau đó, H cầm 02 chiếc điện thoại của anh C1 và chị C2 còn N và T1 đi về. Trên đường đi về nhà, N đã vứt bỏ 01 bình xịt hơi cay đi rồi gọi điện cho H để đòi số tiền 1.500,000 đồng (một nửa số tiền anh C1 nợ H) xem như là tiền công N, T1 đi đòi nợ giúp H. H đồng ý và chuyển khoản từ số tài khoản 999101088888 của H tại ngân hàng M đến số tài khoản 8210108809004 của N tại ngân hàng M số tiền 1.500.000 đồng. N định chia cho T1 1.000.000 đồng, còn N giữ lại 500.000 đồng. Tuy nhiên, N không có tiền mặt nên chưa đưa tiền cho T1. Số tiền 1.500.000 đồng chiếm đoạt được N đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 19/06/2023, anh Tạ Đình C1 đến Trụ sở Công an xã T, huyện T, Hà Nội trình báo về sự việc trên.
Sau khi bị bắt giữ, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Đặng Phi H, Vũ Văn N, Đặng Đình T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tạm giữ của Đặng Phi H 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, đường kính 01cm; 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm, đường kính 01cm; 01 gậy bằng nhựa màu xanh dài 63cm,đường kính 4,2cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại Iphone 7 Plus bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím bị vỡ mặt lưng, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại Iphone 11 bằng nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen đã qua sử dụng; 01 USB bên trong chứa 06 đoạn video sự việc xảy ra ngày 19/06/2023; Tạm giữ của Vũ Văn N 01 điện thoại di động Samsung A2356 màu đen đã qua sử dụng.
Ngày 21/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T có công văn số 100 yêu cầu định giá tài sản đối với 02 chiếc điện thoại; 02 ốp lưng điện thoại và 02 sim điện thoại của anh C1, chị C2.
Tại Kết luận định giá tài sản số 91 ngày 24/06/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11/64Gb, màu tím đã qua sử dụng có giá trị 2.500.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus/32Gb, màu đen đã qua sử dụng có giá trị 1.500.000 đồng.
- 01 sim điện thoại có số 0385.810.xxx đã qua sử dụng có giá trị 50.000 đồng.
- 01 sim điện thoại có số 0358.672.xxx đã qua sử dụng có giá trị 50.000 đồng.
- 01 ốp lưng điện thoại Iphone 11 bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 10.000 đồng.
- 01 ốp lưng điện thoại Iphone 7 plus bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 10.000 đồng.
Ngày 11/07/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T có công văn số 426 yêu cầu giám định đối với 06 file video có trong USB màu trắng nhãn hiệu Kingston.
Tại Kết luận giám định số 6796 ngày 13/10/2023 của Phòng K Công an thành phố H đã kết luận:
- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video (ký hiệu từ A1 đến A) gửi giám định.
- Không xác định được các file video (ký hiệu từ A4 đến A) gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không. Do nội dung hình ảnh không liên tục tại các thời điểm 08:01:47 trong file video ký hiệu A4; 07:52:14 trong file video ký hiệu A5; 07:52:38 08:00:06 trong file ký hiệu A6 (thời gian được tính theo thời gian hiển thị trên màn hình của file video), không xác định được nguyên nhân.
Ngày 21/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với thương tích của anh C1, chị C2 nhưng anh C1 và chị C2 có đơn xin từ chối đi giám định thương tích và không có thắc mắc, yêu cầu gì.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, dung lượng 32Gb, màn hình bị vỡ, số seri: DX3WC6Y4GOO; số Imei: 35947008409097, máy đã qua sử dụng; 01 ốp lưng Iphone 7 plus bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 sim số 0358672098 là tài sản của anh Tạ Đình C1 nên ngày 03/07/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho anh C1, anh C1 nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, dung lượng 64Gb, có số Imei: 35218115604107; số seri: GONCH4GLN739, bị vỡ mặt lưng, máy đã qua sử dụng; 01 ốp lưng Iphone 11 bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 sim số 0385810364 là tài sản của chị Nguyễn Thùy C2 nên ngày 07/07/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho chị C2, chị C2 nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, đường kính 01cm; 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm, đường kính 01cm; 01 gậy bằng nhựa màu xanh dài 63cm,đường kính 4,2cm; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen đã qua sử dụng là tài sản của Đặng Phi H; 01 điện thoại di động Samsung A2356 màu đen đã qua sử dụng là tài sản của Vũ Văn N cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston bên trong chứa 06 tệp video là vật chứng của vụ án cần được lưu giữ trong hồ sơ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về bồi thường dân sự: Ngày 02/07/2023, gia đình H đã bồi thường 30.000.000 đồng cho anh C1 và chị C2. Anh C1 và chị C2 đã nhận bồi thường, nhận lại tài sản và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H.
Tại phiên toà: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận tội danh là đúng với hành vi của các bị cáo. Các bị cáo đều xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm quay về với xã hội.
Người bị hại anh C1 và chị C2 đã nhận lại tài sản và gia đình bị cáo H đã bồi thường số tiền 30.000.000đồng và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Phi H, Vũ Văn N và Đặng Đình T1 về tội "Cướp tài sản "theo điểm a điểm d khoản 2 điều 168 - Bộ luật hình sự năm 2015, như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm a điểm d khoản 2 Điều 168, Điều 38 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Phi H. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đặng Phi H từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/6/2023.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm a, d khoản 2 Điều 168, Điều 38 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn N. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vũ Văn N từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2023.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm a, d khoản 2 Điều 168, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Đình T1. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đặng Đình T1 từ 08 (tám) đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/6/2023.
Về dân sự: Gia đình bị cáo H đã bồi thường 30.000.000đồng cho anh C1 và chị C2. Anh C1 và chị C2 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xét về phần dân sự.
Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu đen và 01 điện thoại samsung A2356 màu đen.
Tịch thu tiêu hủy 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm và 01 gậy bằng nhựa màu xanh.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình thuê trọ tại nhà cho thuê trọ của Đặng Phi H tại địa chỉ số B Y, T, T, Hà Nội, anh Tạ Đình C1 còn nợ Đặng Phi H số tiền 3.000.000đồng và nợ Vũ Văn N 130.000đồng nên H và N đã bàn bạc chuẩn bị hung khí, lợi dụng khi anh Tạ Đình C1 quay lại nhà trọ của H để lấy lại chiếc bếp ga thì H sẽ đưa anh C1 lên tầng 7 của khu trọ và cùng N sẽ đánh để đòi lại số tiền anh C1 còn nợ. Khoảng 6h 30 phút ngày 19/6/2023, khi biết anh C1 đến nhà trọ để lấy đồ dùng N liền rủ Đặng Đình T1 và lên tầng 7 khu nhà trọ đợi sẵn. Khi H đưa anh C1 cùng chị T3 lên tầng 7 thì N và T1 đã dùng vũ lực ngay tức khắc và sử dụng hung khí gồm 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79 cm, đường kính 01 cm; 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 96 cm, đường kính 01 cm; 01 bình bình xịt hơi cay để đánh anh C1 và đe dọa, yêu cầu anh C1 trả nợ. Do anh C1 và chị C2 không có tiền trả nên N, H, T1 đã chiếm đoạt của anh C1 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus có giá trị 1.500.000đồng và chiếm đoạt của chị C2 01 chiến điện thoại Iphone 11 có giá trị 2.500.000đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản H đã chuyển khoản cho N số tiền 1.500.000đồng. N thỏa thuận chia cho T1 1.000.000 đồng, còn N giữ lại 500.000đồng. Nhưng do N không có tiền mặt nên chưa đưa tiền cho T1 và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Đối chiếu pháp luật Đặng Phi H, Vũ Văn N và Đặng Đình T1 đã phạm tội "Cướp tài sản" được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 168 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
[2] Như vậy hành vi Cướp tài sản của Đặng Phi H, Vũ Văn N và Đặng Đình T1 đã phạm vào tội "Cướp tài sản" được quy định tại điểm a, điểm d khoản 2 Điều 168 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản, làm mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ của nhân dân cần thiết phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của từng bị cáo: Đặng Đình H2 là người khởi xướng, bị cáo N và T1 là đồng phạm tích cực tích cực thực hiện hành vi cướp tài sản. Do vậy trong vụ án này H2 là người chủ mưu trong hành vi cướp tài sản, N và T1 là vai trò đồng phạm. Bị cáo H2 phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N và T1.
Về nhân thân: Bị cáo H2 chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo N có 01 tiền sự (đã xóa), bị cáo T1 có 01 tiền án (chưa xóa) và 01 tiền án (đã xóa)
[3] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo Đặng Đình T1 có 01 tiền án (chưa xóa án tích), do đó lần này bị cáo tái phạm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa tất cả các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H2 đã bồi thường cho các bị hại, bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng do đó bị cáo H2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự.
Để trừng trị đồng thời cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe cho người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi lượng hình có xem xét các tình tiết, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về dân sự: Bị cáo H2 và gia đình đã bồi thường 30.000.000đồng cho anh C1 và chị C2. Anh C1 và chị C2 đã nhận bồi thường và nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu đen và 01 điện thoại samsung A2356 màu đen. Các bị cáo H2 và N đã sử dụng vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm và 01 gậy bằng nhựa màu xanh là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và áp dụng hình phạt tù, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Phi H, Vũ Văn N và Đặng Đình T1 phạm tội "Cướp tài sản".
Áp dụng điểm a, điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Phi H.
Áp dụng điểm a, điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s Điều khoản 1 Điều 51, Điều 38- Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn N.
Áp dụng điểm a, điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Đình T1.
Xử phạt: bị cáo Đặng Phi H 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2023.
Xử phạt: bị cáo Vũ Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2023.
Xử phạt: bị cáo Đặng Đình T1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam ngày 23/6/2023.
Về vặt chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu đen 128 GB; số máy MQ963VC/A; số seri: FRQLMHPG9D đã qua sử dụng; không kiểm tra được chất lượng máy bên trong và 01 điện thoại Samsung A2356 màu đen, Imei: 351084830851308 đã qua sử dụng; không kiểm tra được chất lượng máy bên trong máy.
Tịch thu tiêu hủy 01 gậy bằng kim loại màu trắng dài 79cm, đường kính 1cm; 01 Gậy bằng kim loại màu trắng dài 96cm, đường kính 1cm và 01 gậy bằng nhựa màu xanh dài 63cm, đường kính 4,2cm.
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB nhãn hiệu Kingston bên trong có chứa 06 tệp video.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Điều 20, 22, 26 Nghị Quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Đặng Phi H, Vũ Văn N, Đặng Đình T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Liên |
9
10
Bản án số 197/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản
- Số bản án: 197/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
