Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 197/2024/HS-ST
Ngày: 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quang Việt.

2. Ông Nguyễn Đình Cương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1987/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Văn Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S và bà Nguyễn Thị T; vợ, chon: chưa có; tiền án: Bản án số 72/2019/HS-ST ngày 24/4/2019 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (về trách nhiệm dân sự bị cáo chưa thực hiện); tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 37/2013/HSST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 38/2016/HSST ngày 20/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023, bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Viết T1, sinh năm 1981 tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết H và bà Phí Thị L; có vợ và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án: Bản án số 233/2007/HSST ngày 07/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; Bản án số 102/2015/HSST ngày 24/3/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023, bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đinh Văn M, sinh năm 1978 tại tỉnh Long An; nơi đăng ký thường trú: Số C ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Long An; chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T2 (chết) và bà Trần Thị S1 (chết); có vợ và 02 con (con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2006); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 105/2007/HSST của Tòa án nhân dân thị xã Tân An, tỉnh Long An xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2023, bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Ông Park Chan H1, sinh năm 1995; quốc tịch: Hàn Quốc; địa chỉ cư trú tại Việt Nam: Số I N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (bị hại xác nhận tốt nghiệp ngành Việt Nam học tại Trường Đại học K và Nhân văn, quá trình học tập tại Trường Đại học S3 ngôn ngữ tiếng Việt, do đó bị hại xác nhận sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ tố tụng khi tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, không yêu cầu người phiên dịch - có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 sống lang thang ở khu vực Công viên P, Quận F nên có quen biết với nhau. Do cả hai không có tiền tiêu xài nên

bị cáo Đ rủ T1 tìm nơi có xe gắn máy để lấy trộm, T1 đồng ý và thỏa thuận nếu lấy trộm được xe gắn máy thì kiếm chỗ bán xe lấy tiền chia nhau.

Khoảng 16 giờ ngày 28/5/2023, bị cáo Đ chuẩn bị một bộ đoản bẻ khóa cổ xe bỏ vào túi quần bên phải rồi cùng T1 đón xe buýt đi từ Công viên P đến Công viên T. Khi đến nơi, T1 chỉ cho Đ thấy phía trước cửa hàng C, số A N, phường V, Quận C, có nhiều xe mô tô nhưng không có bảo vệ trông coi. T1 đi bộ qua công viên T đứng đợi, còn Đ đi bộ đến trước địa chỉ A N, phường V, Quận C (bên cạnh cửa hàng C) thì nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 17B2-246.81 đang dựng tại đây không có người trông coi nên Đ đi đến dùng tay phải đẩy cổ xe nhưng xe không khóa cổ, Đ đã dùng thanh đoản bẻ gãy ổ khóa xe và đề máy xe chạy về hướng đường C, Đ vẫy tay để T1 hiểu ý đón xe buýt về gặp nhau tại Công viên P. Khi gặp nhau, Đ hỏi T1 nơi bán xe vừa trộm được, T1 điện thoại cho Đinh Văn M nhờ bán chiếc xe mô tô mà Đ đã trộm (có nói nguồn gốc chiếc xe do trộm cắp mà có) thì M kêu ĐT1 đưa xe đến quán cà phê tại số A Quốc lộ A, phường B, quận B gặp M để M đem xe đi bán. ĐT1 đồng ý và dùng xe mô tô vừa trộm chở nhau đến địa điểm mà M hẹn gặp. Khi cả ba gặp nhau, M kêu T1 ở lại quán cà phê đợi, còn Đ sẽ chở M gặp Nguyễn Văn D tại địa chỉ số A đường số A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và Đ đã giao xe cho D, M đi bán, D nói Đ đón xe ôm quay về chỗ T1 đợi. MD đem xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision màu đen biển số 17B2-246.81 bán cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 4.500.000 đồng, MD lấy mỗi người 500.000 đồng rồi quay lại gặp Đ đưa 3.400.000 đồng (nói bán xe được 3.500.000 đồng, đi xe ôm hết 100.000 đồng). Đũ chia cho M, D mỗi người 500.000 đồng tiền công bán xe; trả tiền nước 100.000 đồng, đưa cho T1 1.100.000 đồng, Đ lấy 1.200.000 đồng. Phan Văn Đ đã vứt bộ đoản tại hồ sen trong Công viên P nên không thu giữ được.

Sau khi phát hiện xe mô tô bị mất thì ông Park Chan H1 đã đến Công an phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc và trình bày: Tháng 3 năm 2023, ông được một người bạn tên J (chưa rõ lai lịch) tặng chiếc xe mô tô trên và có đưa cho giấy tờ xe (nên không rõ nguồn gốc xe và giá trị của xe); ngày 28/5/2023, ông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision màu đen biển số 17B2-246.81 đến địa chỉ số A N, phường V, Quận C để vào phía trong cửa hàng C (A N) tập đàn guitar, ông để xe nhưng không khóa cổ, không gửi bảo vệ trông coi.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân

dân Quận C1 thì xe gắn máy hiệu Honda, model: Vision, màu đen, biển số 17B2-246.81 có giá trị hiện tại là 11.833.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Phan Văn Đ, Nguyễn Viết T1Đinh Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (Một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản xảy ra ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C được trích xuất từ camera tại số B N, phường V, Quận C;
  • 01 (Một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C;
  • 01 (Một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C;
  • 01 (Một) sơ yếu lý lịch của Nguyễn Văn D;
  • 01 (Một) hộ khẩu photo tên chủ hộ Nguyễn Văn L1;
  • 01 (Một) áo sơ mi tay ngắn sọc ca rô màu trắng, đen, xám, cổ áo có chữ Alex;
  • 01 (Một) quần jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Denim;
  • 01 (Một) áo thun cổ tròn màu xanh lá cây;
  • 01 (Một) áo sơ mi sọc màu xanh đen, tay dài, cổ áo có chữ Divicd;
  • 01 (Một) quần jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Best 19/72;
  • 01 (Một) nón kết màu đen, trước nón có chữ S2;
  • 01 (Một) điện thoại di động N màu đen, model: TA-1034, số imeil 1 352885106947433; số imeil 2: 352885106947432.
  • 01 (Một) Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 008613 do Công an huyện V, tỉnh Thái Bình cấp tháng 10/2015 (ngày đã mờ) cho bà Lê Thị T4.

Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKS-P2 ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phan Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nguyễn Viết T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Đinh Văn M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Viết T1Đinh Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Viết T1, Đinh Văn M tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 đã thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 17B2-246.81, trị giá 11.833.000 đồng của ông Park Chan H1; Đinh Văn M biết chiếc xe Đũ, T1 nhờ bán là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đi bán chiếc xe trên và lấy tiền công. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Đinh Văn M phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Riêng đối với Nguyễn Văn D Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được nên đã tách vụ án để điều tra làm rõ. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Phan Văn Đ từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Viết T1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Đinh Văn M từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Buộc các bị cáo liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000 đồng làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo Đ: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, chuộc lại lỗi lầm của bản thân.

Bị cáo T1: Bị cáo nhận thức được lỗi lầm của bị cáo, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để sớm về với gia đình.

Bị cáo M: Bị cáo nhận thức được lỗi của bản thân, không nói gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Tại các biên bản lấy lời khai, bị hại đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

Bị cáo Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái pháp luật xe môtô biển số 17B2-246.81 trị giá 11.833.000 đồng của ông Park Chan H1.

Hành vi này của bị cáo Phan Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Viết T1 đã tái phạm (Bản án số 102/2015/HSST đã ghi nhận bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Đinh Văn M biết rõ xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 17B2-246.81 mà bị cáo Đ, T1 nhờ bán có được từ việc phạm tội nhưng vẫn bán nhằm tiêu thụ tài sản này cho người phạm tội. Hành vi của bị cáo Đinh Văn M đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Văn Đ phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Các bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội cần phải xử lý các bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, giữa các bị cáo có sự khác nhau về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tiền án, tiền sự, vì vậy, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt tương ứng với từng bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang, không nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại ông Park Chan H1 yêu cầu bị cáo Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 bồi thường giá trị chiếc xe gắn máy đã trộm cắp là 25.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý nhưng chưa xác định được thời gian trả vì đang bị tạm giam. Do không xác định cụ thể được mức độ lỗi của mỗi bị cáo nên theo quy định tại Điều 587, Điều 584, Điều 585, Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Park Chan H1 theo phần bằng nhau (mỗi người 12.500.000 đồng), làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản xảy ra ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C được trích xuất từ camera tại số B N, phường V, Quận C; 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C; 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C; 01 (một) Sơ yếu lý lịch của Nguyễn Văn D; 01 (một) Hộ khẩu photo tên chủ hộ Nguyễn Văn L1: đây là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  • Đối với 01 (một) áo thun cổ tròn màu xanh lá cây; 01 (một) áo sơ mi sọc màu xanh đen, tay dài, cổ áo có chữ Divicd; 01 (một) quần Jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Best 19/72; 01 (một) nón kết màu đen, trước nón có chữ Supreme thu giữ của bị cáo Phan Văn Đ; 01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc ca rô màu trắng, đen, xám, cổ áo có chữ Alex và 01 (một) quần Jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Denim thu giữ của bị cáo Nguyễn Viết T1 là quần, áo các bị cáo sử dụng lúc thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với : 01 (một) điện thoại di động N màu đen, model: TA-1034, số imeil 1: 352885106947433; số imeil 2: 352885106947432 thu giữ của Đinh Văn M, đây là phương tiện liên lạc bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 008613 do Công an huyện V, tỉnh Thái Bình cấp tháng 10/2015 (ngày đã mờ) cho bà Lê Thị T4 - Là giấy đăng ký của xe gắn máy hiệu nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đen, biển số 17B2-246.81, số khung: 5800EY803730, số máy: JF58E0803772 thu giữ của ông Park Chan H1 nhưng do hiện nay xe gắn máy này chưa truy tìm được; còn bà Lê Thị T4 trình bày bà có đứng tên đăng ký chiếc xe này nhưng đã bán xe, khi giao dịch chỉ mua bán bằng lời nói, chưa sang tên sở hữu và bà không có nhu cầu nhận lại giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 008613 nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
  • Khi thực hiện các hành vi phạm tội, bị cáo Phan Văn Đ thu lợi bất chính được số tiền 1.200.000 đồng; bị cáo Nguyễn Viết T1 thu lợi bất chính được số tiền 1.100.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo Đ và bị cáo T1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Bị cáo Đinh Văn M thu lợi bất chính được số tiền 1.000.000 đồng nên cần buộc các bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với trách nhiệm của Nguyễn Văn D: Do chưa làm việc được với D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 568/QĐ-13 ngày 29/8/2023 để làm tiếp tục điều tra làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm mà có của Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không xét.

[10] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T1 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đinh Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2023.

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 590, 288, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

  • Buộc bị cáo Phan Văn ĐNguyễn Viết T1 cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cho ông Park Chan H1, trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường là 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Kể từ ngày ông Park Chan H1 có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu các bị cáo chưa thi hành thì hàng tháng các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo thun cổ tròn màu xanh lá cây; 01 (một) áo sơ mi sọc màu xanh đen, tay dài, cổ áo có chữ Divicd; 01 (một) quần jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Best 19/72; 01 (một) nón kết màu đen, trước nón có chữ Supreme; 01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc ca rô màu trắng, đen, xám, cổ áo có chữ Alex và 01 (một) quần jean màu xanh, phía sau lưng có chữ Denim.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động N màu đen, model: TA-1034, số imeil 1: 352885106947433; số imeil 2: 352885106947432 (...7432, đã cũ, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
    (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NN2024/165 ngày 21/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Buộc bị cáo bị cáo Đinh Văn M nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.000.000đ (một triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước;
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản xảy ra ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C được trích xuất từ camera tại số B N, phường V, Quận C; 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C; 01 (một) USB bên trong có chứa nội dung ghi nhận hình ảnh đối tượng trộm xe vào ngày 28/5/2023 tại trước số A N, phường V, Quận C; 01 (một) Sơ yếu lý lịch của Nguyễn Văn D; 01 (một) Hộ khẩu photo tên chủ hộ Nguyễn Văn L1 và 01 (Một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 008613 do Công an huyện V, tỉnh Thái Bình cấp tháng 10/2015 (ngày đã mờ).

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Mỗi bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Viết T1, Đinh Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Buộc mỗi bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Viết T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 625.000₫ (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - THAHS TP.HCM;
  • - Phòng PV06- CA TP.HCM;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Mai Trần Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 197/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan và Đ và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger