Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 197/2024/HS-PT
Ngày: 22-10-2024.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.

- Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du và Ông Mai Nam Tiến

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Lê Công Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 269/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2024/QĐXXPT-HS ngày 10/10/2024 đối với:

* Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn G, tên gọi khác: không, sinh ngày 10/4/1974; CCCD số: [...]; cấp ngày 28/6/2021: Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi ĐKHKTT, nơi cư trú và nơi ở hiện tại: Thôn A, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị U sinh năm 1934; có vợ là Nguyễn Thị L sinh năm 1977 và 03 con lớn sinh năm 1996 nhỏ sinh năm 2007; gia đình có 7 anh chị em bị cáo là con thứ 5; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2024, đến ngày 14/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người bị hại:

- Anh Tô Văn M - sinh năm 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Tô Văn T1 - sinh năm 1972 (đã chết)

2

+ Người đại diện hợp pháp của anh T1: Chị Lê Thị N - sinh năm 1974 (Vợ) (có mặt).

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Bùi Văn T2 - sinh năm 1976 (đã chết)

+ Người đại diện hợp pháp của anh T2: Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1979 (Vợ) (có mặt).

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 03 giờ ngày 05/3/2024, Lê Văn G (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải BKS: 36C - 298.96 lưu thông trên đường theo hướng từ thôn A, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đến địa bàn huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để nhập hàng thịt trâu tươi cho các nhà hàng, quán ăn. Sau khi nhập hàng xong, G điều khiển xe ô tô BKS: 36C - 298.96 đi trên đường T theo hướng Nam - B, tốc độ 40km/h để tiếp tục nhập hàng cho các cửa hàng quán ăn ở khu vực xã Q, xã Q thuộc địa phận thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Đến khoảng 05giờ 10phút cùng ngày khi đi đến địa phận thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; do buồn ngủ, không chú ý quan sát phía trước chiều đi của mình nên Lê Văn G đâm va vào anh Tô Văn M - sinh năm 1972, anh Tô Văn T1 - sinh năm 1972 đều ở thôn M, xã Q, huyện Q và anh Bùi Văn T2 - sinh năm 1976 ở thôn H, xã Q, huyện Q đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả: Anh Tô Văn T1 và anh Bùi Văn T2 chết tại chỗ, anh Tô Văn M bị thương nhẹ.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được xác định là tại km 7 + 590 đường tỉnh lộ 511 thuộc địa phận thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (hướng B đi xã Q, hướng N đi xã Q). Mặt đường rộng 07m, được trải nhựa tương đối bằng phẳng, hai bên đường là mép bê tông rộng khoảng 02m, khu nhà dân đông đúc, hai bên có đèn đường, hiện tại đang sáng đèn. Lấy mép phía Đông đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn.

* Thứ tự phương tiện, dấu vết được thể hiện như sau:

  • Số (1) là vết tỳ trượt mặt đường dài 2m60, chiều hướng vết Nam - Bắc. Điểm xuất phát vết cách mép chuẩn là 50cm, điểm kết thúc vết cách mép chuẩn là 50cm. Bề mặt vết bám dính vật dạng tóc người.
  • Số (2) là vị trí đánh dấu tử thi Tô Văn T1, đầu tử thi hướng Đông Bắc, chân tử thi hướng T. Đầu tử thi cách mép chuẩn là 40cm, cách điểm kết thúc vết (1) là 1,05m, chân tử thi cách mép chuẩn là 1m60.
  • Số (3) là vị trí đánh dấu tử thi Bùi Văn T2 nằm tại lề đường bê tông phía Đông đường. Đầu tử thi hướng Nam, cách mép chuẩn là 1m50, chân tử thi hướng Bắc, cách mép chuẩn 1m00.

3

- Số (4) là vị trí đánh dấu xe ô tô BKS: 36C - 298.96 đang đỗ tại mép phía Đông đường. Trục bánh sau bên trái xe ô tô cách đầu tử thi Tô Văn T1 là 43m70. Đầu xe hướng Bắc, đuôi xe hướng Nam. Trục bánh trước bên phải cách mép chuẩn là 15cm, trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn 10cm.

Từ điểm xuất phát vết (1) đo song song với mép chuẩn về phía Bắc được 2m90 là mép phía Bắc đại lý vật liệu xây dựng B.

* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Tô Văn T1:

Tại bản Kết luận giám định pháp y số 983/KLGĐTT - PC09 ngày 11/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Các vết rách da cơ, xây xướt da tại vùng: Đầu, mặt, vai, ngực, lưng, chân trái.
  • Đứt tai phải, hố mắt phải bầm tím.
  • Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng hai bên, mặt sau xương ức.
  • Gãy cung trước xương sườn 2,3,4,5,6 bên phải; gãy cung trước xương sườn 2,3 bên trái.
  • Máu không đông tại khoang ngực, ngoài tim.
  • Dập tụ máu diện rộng hai bên phổi.
  • Vỡ tim.
  • Dạ dày có ít dịch, không có thức ăn, niêm mạc dạ dày không có tổn thương.
  • Các bộ phận khác không phát hiện thấy tổn thương.

- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Bùi Văn T2:

Tại bản Kết luận giám định pháp y số 984/KLGĐTT-PC09 ngày 11/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Các vết rách da cơ, rách da, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, vai, ngực, bụng, lưng hông, tay trái, hai chân.
  • Vỡ xương chậu.
  • Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng hai bên.
  • Gãy 1/3 giữa thân xương ức; gãy cung trước, cung bên xương sườn số 2 đến số 8 bên phải; gãy cung trước xương sườn số 2 đến số 6 bên trái.
  • Máu không đông lẫn máu cục tại khoang ngực, khoang ngoài tim, ổ bụng.
  • Dập rách, tụ máu diện rộng hai bên phổi.
  • Rách tâm nhĩ trái, tụ máu rải rác cơ tim.
  • Dập, vỡ gan.
  • Dạ dày có ít dịch, không có thức ăn, niêm mạc dạ dày không có tổn thương.
  • Các bộ phận khác không phát hiện thấy tổn thương.

- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

4

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Tại bản Kết luận giám định số 1016/KL - KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Các dấu vết ghi nhận tại mặt trước bên trái đầu xe, góc dưới bên trái kính chắn gió trước, mặt trước đầu xe (cách thành xe bên phải 74cm); mặt trước dưới phần trước sắt xi, thanh chuyển hướng, cầu trước đến cầu sau xe ô tô BKS: 36C - 298.96 phù hợp va chạm với quần áo và cơ thể nguồi tạo nên.
  • Không đủ cơ sở xác định là va chạm với anh Tô Văn T1, anh Bùi Văn T2 hay anh Tô Văn M.
  • Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô BKS: 36C - 298.96 chuyển động theo chiều từ xã Q đi xã Q.
  • Không đủ cơ sở xác định chiều hướng chuyển động của anh Tô Văn T1, anh Bùi Văn T2 hay anh Tô Văn M.
  • Không đủ cơ sở xác định phần đường va chạm giữa xe ô tô BKS: 36C-298.96 với các nạn nhân.

* Kết quả xác định chất kích thích, cồn, ma túy:

  • Tại bản Kết luận giám định số 1050/KL - KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

    Mẫu máu của Lê Văn G gửi giám định như sau: Mẫu máu của Lê Văn G niêm phong gửi giám định không có cồn.

  • Tại bản Kết luận giám định số 1053/KL - KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

    Mẫu nước tiểu của Lê Văn G gửi giám định như sau: Không tìm thấy chất ma túy loại MDA, MDMA, Ketamin, Methamphetamine, Amphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Văn G gửi giám định.

Ngày 06/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh T giám định ký thuật số - điện tử số đối với F video chứa hình ảnh liên quan vụ tai nạn. Tại bản Kết luận số 1402/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 đĩa CD gửi giám định.
  • Trích xuất 07 hình ảnh trong tệp video gửi giám định - thể hiện trong phụ lục.

Ngày 06/3/2024, Cơ quan CSĐT đã trưng cầu giám định sinh học đối với vỏ bọc vô lăng của xe ô tô BKS: 36C - 298.96 và mẫu so sánh có chưa niêm mạc miệng của Lê Văn G. Tại bản Kết luận số 1246/KL - KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Trên vỏ bọc vô lăng gửi giám định có tế bào của Lê Văn G.
  • L1 kiểu gen (theo hệ globalfiler) của Lê Văn G tại phòng K Công an tỉnh T.

Sau khi tiến hành khám và thu thập dấu vết xe ô tô BKS: 36C - 298.96 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã trả lại cho đại diện gia đình chủ sở hữu Lê Văn G

5

phù hợp.

Đối với thương tích của anh Tô Văn M: Do thương tích nhẹ không ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của bản thân, vì vậy anh M từ chối giám định tổn hại sức khỏe do vụ tai nạn giao thông gây ra.

Bị cáo Lê Văn G tác động đến gia đình; ngày 25/4/2024 đại diện gia đình bị cáo Lê Văn G đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả toàn bộ chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Tô Văn T1Bùi Văn T2, mỗi bị hại 200.000.000đ. Bồi thường tiền chữa trị, tổn thất tinh thần cho bị hại Tô Văn M 80.000.000₫. Gia đình bị hại Tô Văn T1, Bùi Văn T2 và bị hại Tô Văn M không yêu cầu và đề nghị gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại vẫn tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 26/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định về dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 30/8/2024 (trong hạn luật định) bị cáo Lê Văn G có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn G, giảm hình phạt cho bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù. Vật chứng thu của bị cáo G hiện đang trong hồ sơ vụ án là 01 giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 24/9/2019 mang tên Lê Văn G, bị cáo G có nguyện vọng xin lại xét thấy không ảnh hưởng đến vụ án nên căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Văn G tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

6

cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:

Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 05/3/2024 Lê Văn G (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô BKS:36C - 298.96 tham gia giao thông đến đoạn Km7 + 590 đường tỉnh lộ 511 thuộc địa phận thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (theo hướng Nam - Bắc); là đoạn đường nhựa rộng 07m tương đối bằng phẳng, hai bên là mép đường bê tông rộng 02m, khu nhà dân đông đúc, hai bên có đèn đường, do buồn ngủ, không chú ý quan sát phía trước chiều đi của mình nên đã đâm va vào anh Tô Văn M, anh Tô Văn T1 và anh Bùi Văn T2 đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả: Anh Tô Văn T1 và anh Bùi Văn T2 chết tại chỗ, anh Tô Văn M bị thương nhẹ.

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cấp sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của BLHS.

[3] Về tính chất vụ án:

Vụ án thuộc tội phạm nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông và sức khỏe của người khác. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn G:

Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho các gia đình bị hại, gia đình các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo có đóng góp vật chất trong giai đoạn phòng chống dịch Covid ; bố mẹ bị cáo là người tham gia dân công hỏa tuyến là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là giấy xác

7

nhận của Mặt trận tổ quốc huyện Như T3 về việc gia đình bị cáo đã ủng hộ 5.000.000đ cơn bảo số 3 năm 2024; Các gia đình nạn nhân và bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại phiên tòa tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Xác nhận của chính quyền địa phương về gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong nhà, chấp hành tốt chính sách và phát luật ở địa phương đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết mới nên cần xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa bị cáo G xin lại vật chứng thu của bị cáo G hiện đang trong hồ sơ vụ án là 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Văn G, xét thấy không ảnh hưởng đến vụ án nên căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo G 01 giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 24/9/2019 mang tên Lê Văn G là phù hợp.

Do vậy, kháng cáo của bị cáo Lê Văn G là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn G. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 26/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2024.

8

Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS

Trả lại cho bị cáo Lê Văn G 01 giấy phép lái xe số [...] cấp ngày 24/9/2019 mang tên Lê Văn G tại phiên tòa.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT Công an H. Quảng Xương.TH;
  • - TAND, VKSND H. Quảng Xương.TH;
  • - Chi cục THA DS H.Quảng Xương.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 197/2024/HS-PT ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 197/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xe ôtô làm chết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger