|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2024 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh
Ông Đặng Trần Khoa
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bé T, sinh năm: 1991
- Địa chỉ: Lô 3, ô DC4 Khu tái định cư V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm: 1986
- Địa chỉ: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 08/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bé T trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn T1 kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 22/3/2018. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn kéo dài đến mức không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà và ông T1 không còn sống chung với nhau đã hơn 03 năm nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Văn T1.
Về con chung: Bà và ông Đỗ Văn T1 có hai con chung là Đỗ Hoàng P, sinh ngày: 07/7/2018 và Đỗ Trung K, sinh ngày: 28/4/2021. Ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi cháu K và giao cháu P cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 30/8/2024, bị đơn ông Đỗ Văn T1 trình bày: Năm 2018, ông và bà T tự nguyện kết hôn sau đó về sống ở nhà bố mẹ ông ở thôn P, xã P, thành phố N. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc tuy nhiên bà T có mâu thuẫn với mẹ ông nên sau khi sinh cháu K, bà T đã bỏ nhà đi. Từ đó, ông và bà T không còn sống chung với nhau nữa. Ông đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng bà T vẫn không đồng ý quay về chung sống và cùng nhau nuôi dạy con cái. Nay bà T yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn vì ông muốn cho các con có đủ cha và mẹ, khi nào các con chung trưởng thành thì ông mới đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà T có hai con chung là Đỗ Hoàng P, sinh ngày: 07/7/2018 và Đỗ Trung K, sinh ngày: 28/4/2021. Hiện nay, bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và ông đang nuôi dưỡng cháu P. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, ông đồng ý nuôi dưỡng cháu P và giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông T1 đồng ý ly hôn với bà T. Về con chung, ông vẫn có nguyện vọng được nuôi cháu P và giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Huỳnh Thị Bé T được ly hôn ông Đỗ Văn T1. Về con chung, đề nghị giao cháu Đỗ Hoàng P, sinh ngày: 07/7/2018 cho ông Đỗ Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Đỗ Trung K, sinh ngày: 28/4/2021 cho bà Huỳnh Thị B Tâm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà T và ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà T và ông T1 không yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xem xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Huỳnh Thị Bé T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc ly hôn với ông Đỗ Văn T1. Ông T1 có địa chỉ cư trú tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bé T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Bé T và ông Đỗ Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường V, thành phố N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 22/3/2018 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai của bà T, quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hôn nhân không hạnh phúc. Ngoài ra, quá trình chung sống với gia đình chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do đó khi cháu K đầy tháng, bà đã dẫn hai con chung về nhà mẹ đẻ sinh sống. Thời gian sau này, ông T1 có đón cháu P về trực tiếp nuôi dưỡng còn bà nuôi dưỡng cháu K, không ai quan tâm gì đến ai. Bà T xác định bà không còn tình cảm với ông T1 nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Tại phiên tòa, ông T1 thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, cãi vã nhưng không đến mức to tát. Từ năm 2021, bà T có mâu thuẫn với mẹ ông rồi bỏ nhà đi không về nên bà T yêu cầu ly hôn, ông cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà T và ông T1 không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị ly hôn của bà T là chính đáng, có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà Huỳnh Thị Bé T và ông Đỗ Văn T1 có hai con chung là Đỗ Hoàng P, sinh ngày: 07/7/2018 và Đỗ Trung K, sinh ngày: 28/4/2021. Bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu K và ông T1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu P. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và ông T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Do đó, nhằm đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất cho tâm sinh lý của trẻ em cần tiếp tục giao cháu Đỗ Hoàng P cho ông T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Đỗ Trung K cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, là phù hợp với điều kiện hiện tại, phù hợp với quy định của pháp luật.
3
[4] Về cấp dưỡng: Bà T và ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bé T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bé T được ly hôn ông Đỗ Văn T1.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Hoàng P, sinh ngày: 07/7/2018 cho ông Đỗ Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Đỗ Trung K, sinh ngày: 28/4/2021 cho bà Huỳnh Thị B Tâm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Bà T và ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Đồng thời, có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Bà T và ông T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích của con chung, nếu xét thấy cần thiết bà T và ông T1 đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Bé T và ông Đỗ Văn T1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00002272 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí.
Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hồng Thủy |
Bản án số 197/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 197/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
