|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07/6/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tùng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ
Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2401/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1972 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: A đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1974 (Có đơn xin vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: A đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: 26 Davey St M. Wa 6210, state P, Australia.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn ông Phạm Văn Đ trình bày: Ông và bà Phan Thị T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62, ngày 15/6/2005 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre cấp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc, khoảng năm 2020 - 2022 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bản thân ông thấy tình cảm vợ chồng không còn như trước, hai người sống cùng nhà nhưng vợ chồng sống như ly thân, mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đầu năm 2023, bà Phan Thị T xuất cảnh qua Úc sinh sống làm ăn cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cũng không còn liên lạc và đã sống ly thân nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị T.
Về con chung: Có hai con chung Phạm Huỳnh Như T1, sinh ngày 25/3/2005 và Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012, hiện cả hai đang sinh sống cùng với ông, khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, trẻ Phạm Huỳnh Như T1, sinh ngày 25/3/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
Tại Bản tự khai, bị đơn bà Phan Thị T trình bày: Bà đồng ý ly hôn với ông Phạm Văn Đ vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.
Về con chung: Có hai con chung Phạm Huỳnh Như T1, sinh ngày 25/3/2005 và Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012, hiện cả hai đang sinh sống cùng ông Phạm Văn Đ, khi ly hôn bà đồng ý giao trẻ Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con, trẻ Phạm Huỳnh Như T1, sinh ngày 25/3/2005 đã trưởng thành bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ và bà T.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre cấp ngày 15/6/2005 nên là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi kết hôn, thời gian đầu ông Đ, bà T chung sống vui vẻ hạnh phúc, khoảng năm 2020 - 2022 ông Đ, bà T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bản thân ông Đ thấy tình cảm vợ chồng không còn như trước, hai người sống cùng nhà nhưng vợ chồng sống như ly thân, mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đầu năm 2023, bà Phan Thị T xuất cảnh qua Úc sinh sống làm ăn cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cũng không còn liên lạc và đã sống ly thân nên ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị T là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị T cùng thỏa thuận: Giao trẻ Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, trẻ Phạm Huỳnh Như T1, sinh ngày 25/3/2005 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về án phí: Ông Phạm Văn Đ là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 116. 121 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn Đ.
- Về hôn nhân: Ông Phạm Văn Đ được ly hôn với bà Phan Thị T.
- Về con chung: Giao trẻ Phạm Huỳnh Tấn P, sinh ngày 12/01/2012 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà T, do ông Đ không yêu cầu.
Vì lợi ích của trẻ, việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có gì để giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Đ chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0032691 ngày 26/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.-
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Tùng Lâm |
Bản án số 197/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 197/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn Đ và bà Phan Thị T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62, ngày 15/6/2005 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre cấp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc, khoảng năm 2020 - 2022 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bản thân ông thấy tình cảm vợ chồng không còn như trước, hai người sống cùng nhà nhưng vợ chồng sống như ly thân, mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
