Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196A/2024/HSST

Ngày 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn.
  • Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Phúc.
  • Ông Nguyễn Văn Cát.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLST-HS ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 177/2024/QĐXX-TA ngày 08/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1995; HKTT: số F N, tổ E, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Đảng phái, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lê Anh B, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Phạm Thị Thanh B1, sinh năm 1967; A, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất; Vợ: Tòng Thị H, sinh năm 2002; Con: Lê Ngọc Khánh L, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 1012 lập ngày 29/12/2023 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 19/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 17/12/2023 đến ngày 19/12/2023, Lê Minh N thuê phòng 701 nhà nghỉ D1 (địa chỉ: số A, ngõ B đường T, phường M, quận H) để ở cùng bạn là Bạch Thị Giáng M, sinh năm 1995, trú tại: số D L, phường N, quận H, thành phố Hà Nội).

Đến khoảng 18 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, N nhắn tin cho Phạm Xuân T, SN 1988, trú tại: số D, ngõ A N, phường M, quận H qua ứng dụng T1, N lưu tên tài khoản là “A B2" để hỏi mua 400.000 đồng ma tuý “đá” của T và được T đồng ý. T nhắn cho N số tài khoản 188421498 ngân hàng V mang tên “Pham X” để N chuyển tiền mua ma tuý. Sau đó, N dùng tài khoản ngân hàng T3, số tài khoản 04469880956 của N chuyển số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng đến tài khoản 188421498 Ngân hàng V của T. Trường N1 và chụp ảnh cho N vị trí cất giấu ma tuý ở cổng nhà của T và bảo N ra lấy.

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, N sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen bạc, BKS 30M7-7258 đi từ nhà nghỉ D1 đến nhà của T ở số D, ngõ A N, M, H. Đến nơi, N thấy có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5 x 2,5 cm) bên trong chứa 01 viên nén màu hồng cùng tinh thể màu trắng, được dán băng dính đen ở cổng nhà của T. N biết là túi ma tuý mà T đã chụp ảnh cho N từ trước nên cẩm túi ma tuý trên trong lòng bàn tay trái và quay lại nhà nghỉ D1. Khi về phòng, N bảo với M vừa về nhà rồi cất túi ma tuý vào ngăn kéo kệ đầu giường trong phòng 701 của nhà nghỉ D1.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi N và M đang ở trong phòng 701, nhà nghỉ D1 thì bị tổ công tác Công an phường V phối hợp cùng Công an phường M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đồng thời tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa N về trụ sở, sau đó chuyển cơ quan CSĐT Công an quận H điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi bên ngoài gói bằng nilon màu trắng (KT 2,5 x 2,5 cm) bên trong chứa 01 viên nén màu hồng cùng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát: 30N7 - 7258, SM: 525090, SK: 505867.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 883 đối với 01 (một) túi nilong (kích thước 2,5 x 2,5 cm) bên trong chứa 01 viên nén màu hồng cùng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, đã thu giữ của Lê Minh N. Tại bản kết luận giám định số 8551/KL-KTHS ngày 27/12/2023, kết luận: “01 viên nén màu hồng là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng: 0,098 gam. Tinh thể màu trắng là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,158 gam".

Cáo trạng số 157/CT-VKS-HĐ ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Lê Minh N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Minh N từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01(một) phong bì niêm phong dán kín các mép, tại các mép dán có chữ ký của Lê Minh N, Bạch Thị Giáng M; cán bộ Công an Bùi Văn T2, Giám định viên Nguyễn Hồng Q.
  • - Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax vỏ màu xanh, lắp sim số 0876426147.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, tại phòng 701, nhà nghỉ D1 ở địa chỉ số A, ngõ B, đường T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội; Lê Minh N có hành vi cất giấu trái phép 0,256 gam ma túy loại Methamphetamine tại ngăn kéo kệ đầu giường trong phòng 701 để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường V phối hợp với Công an phường M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của Lê Minh N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây ảnh hưởng trật tự trị an, an toàn xã hội. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải của bị cáo là những tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo không có thu nhập ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

[3] Về nguồn gốc ma túy đã thu giữ: Lê Minh N khai mua ma túy của đối tượng Phạm Xuân T, sinh năm 1988; trú tại: số D, ngõ A N, phường M, quận H. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra. Tuy nhiên, Phạm Xuân T không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương không biết. Ngày 16/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định khởi tố bổ sung số 3157 về vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời ra Quyết định tách vụ án số 3158 và tài liệu liên quan đến Phạm Xuân T để tiếp tục điều tra làm rõ, đủ căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.

[4] Đối với Bạch Thị Giáng M là người ở cùng phòng 701, nhà nghỉ D1 với Lê Minh N. Kết quả điều tra xác định: M không biết việc N mua ma tuý của T, M không biết N có ma túy cất giấu tại ngăn kéo kệ đầu giường trong phòng 701 của nhà nghỉ D1, M không góp tiền mua ma tuý cùng N. Nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với M là có căn cứ.

[5] Về vật chứng:

  • + Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen bạc, BKS 30M7-7258 là phương tiện N sử dụng đi mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Thanh B1, sinh năm 1967, trú tại: TDP E, phường M, quận H (là mẹ đẻ của N). Ngày 17/12/2023, N mượn bà B1 chiếc xe để làm phương tiện đi lại. Việc N sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý bà B1 không được biết. Ngày 10/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho bà Phạm Thị Thanh B1 là có căn cứ.
  • + Số ma túy trong 01(một) phong bì niêm phong dán kín các mép, tại các mép dán có chữ ký của Lê Minh N, Bạch Thị Giáng M; cán bộ Công an Bùi Văn T2, Giám định viên Nguyễn Hồng Q là vật thuộc loại cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax vỏ màu xanh, lắp sim số 0876426147 Lê Minh N dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Minh N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong dán kín các mép, tại các mép dán có chữ ký của Lê Minh N, Bạch Thị Giáng M; cán bộ Công an Bùi Văn T2, Giám định viên Nguyễn Hồng Q.
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax vỏ màu xanh, lắp sim số 0876426147.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/7/2024)

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Minh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - CA quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196A/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 196A/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger