TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 1966 /2024/DS – ST.
Ngày: 21 – 5 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- 2. Ông Nguyễn Cửu Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1681/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1720/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2360/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Địa chỉ: Số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Hà V, sinh năm 2001; Địa chỉ liên hệ: P, Tầng D, số G T, phường T, Quận G, Tp ..
- Bị đơn: Bà Tống Thị Ánh N, sinh năm 1987
Địa chỉ: 1 tổ E, Khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 9 năm 2023 của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam), lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:
Ngày 14/3/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Mirae A) và bà Tống Thị Ánh N có ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 2961686 về việc cấp tín dụng cho bà Tống Thị Ánh N với khoản vay trị giá 29.848.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Tống Thị Ánh N . Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng, bà Tống Thị Ánh N có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.922.166 đồng từ 10/4/2022 đến 10/4/2024, 10/3/2024 thanh toán 1.578.749 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 10/4/2022 đến ngày 10/3/2024.
Tuy nhiên sau khi được giải ngân, bà N đã thah toán tiền từ 09/4/2022 đến 12/9/2022. từ ngày 13/9/2022 bà Tống Thị Ánh N đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Mirae A đã giải ngân.
Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà Tống Thị Ánh N thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng đồng thời Mirae Asset đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Tống Thị Ánh N biết về việc hoàn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên bà Tống Thị Ánh N không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho phía M.
Nay Công ty T đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Tống Thị Ánh N phải thanh toán cho Công ty T số tiền tạm tính đến ngày 21/5/2024 là: 48.873.340 đồng, trong đó:
- - Nợ gốc: 24.512.162 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 9.527.409 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 13.768.596 đồng.
- - Nợ lãi chậm trả: 1.065.173 đồng.
- Yêu cầu bà Tống Thị Ánh N phải thanh toán lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Tống Thị Ánh N mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án cho đến trước phiên tòa hôm nay và cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn Bà Tống Thị Ánh N mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý đơn khởi kiện đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền. Việc cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, xét xử đúng thời gian, địa điểm, đúng thành phần, thủ tục khai mạc phiên tòa đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty T yêu cầu bà Tống Thị Ánh N phải trả cho Công ty T số tiền đã vay theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 11/3/2022 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Công an phường L, thành phố T trả lời kết quả trả lời xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức như sau: “ Công dân Tống Thị Ánh N, SN 1987, HKTT: 3 N, phường T, thành phố T có thực tế cư trú tại địa chỉ 1 tổ E, Khu phố F, phường L, thành phố T”.
Do bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Hà V có đơn xin vắng mặt, bị đơn là bà Tống Thị Ánh N đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.
[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà N phải thanh toán tiền gốc là lãi tổng cộng 48.873.340 đồng:
[3.1] Về yêu cầu của trả tiền gốc:
Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án, coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ trên các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét và đánh giá.
Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp bao gồm: Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2961686 ngày 11/3/2022; Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng; Giấy chứng nhận bảo hiểm bảo an tín dụng ngày 15/3/2022; Phiếu báo nợ ngày 15/3/2022 có đủ cơ sở xác định ngày 14/3/2022, Công ty T và bà Tống Thị Ánh N đã ký Hợp đồng số 2961686 về việc cấp tín dụng cho bà Tống Thị Ánh N với khoản vay trị giá 29.848.000 đồng, thời hạn vay: 24 tháng, mục đích vay: mua hàng. Sau khi ký kết hợp đồng, phía Công ty T đã giải ngân cho bà N theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng vào ngày 15/3/2022 với số tiền 28.000.000 đồng và phí bảo hiểm 1.848.000 đồng.
Xét thấy, việc các bên giao kết hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị giá trị ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối với các bên giao kết. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, phía Công ty T đã giải ngân cho bà N theo đúng hợp đồng nhưng bà N không thanh toán đúng tiến độ theo Hợp đồng tín dụng cho Công ty T là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết. Từ ngày 09/4/2022 đến 12/9/2022 bà N thanh toán cho Công ty T được tổng cộng 06 đợt với tổng cộng số tiền 11.532.000 đồng. Tổng số tiền gốc còn nợ là 24.512.162 đồng. Do vậy Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà N phải trả số tiền gốc chưa thanh toán là 24.512.162 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Về yêu cầu trả lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả:
Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2961686 ngày 11/3/2022 giữa Công ty T và bà Tống Thị Ánh N tại mục 3.7 Phần B có quy định: “Lãi suất hàng tháng 3.75%” và mục 8.3 Phần B trả nợ trễ hạn có quy định: “Tiền lãi trên dư nợ gốc quá hạn sẽ được tính theo công thức sau: 150% x (Lãi suất tại thời điểm nợ quá hạn) x (dư nợ gốc quá hạn) x (số ngày trễ hạn/365). Trong đó lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn là 150% x (lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn) hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của MAFC theo từng thời điểm. Tiền lãi chậm trả sẽ được tính theo công thức: 10% x (số dư lãi chậm trả) x (số ngày trễ hạn/365) trong đó lãi suất chậm trả là 10%/năm hoặc thấp hơn tùy theo quyết định của MAFC theo từng thời điểm.”.
Xét thấy, mức lãi suất do hai bên tự nguyện thỏa thuận và phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Do đó, tính đến ngày 21/5/2024 bà N còn số tiền lãi trong hạn: 9.527.409 đồng, lãi quá hạn: 13.768.596 đồng, lãi chậm trả: 1.065.173 đồng. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà N phải trả cho Công ty T tổng số tiền lãi phải trả là: 24.361.178 đồng.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tống Thị Ánh N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 189, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 155; Điều 429; Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam).
Buộc bà Tống Thị Ánh N có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền 48.873.340 đồng (Bốn mươi tám triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn ba trăm bốn mươi đồng), trong đó:
- - Nợ gốc: 24.512.162 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 9.527.409 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 13.768.596 đồng.
- - Nợ lãi chậm trả: 1.065.173 đồng.
Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2961686 ngày 11/3/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
- Về án phí: Bà Tống Thị Ánh N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.443.667 (Hai triệu bốn trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.
Công ty T (Việt Nam) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 912.266 đồng theo B lại thu số AA/2023/0006111 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Phạm Thị Ngọc Dưỡng | Võ Thu Phương |
Nguyễn Cửu Long |
Bản án số 1966/2024/DS – ST. ngày 21/05/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1966/2024/DS – ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
