|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2023/HS-ST Ngày: 30 – 10 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Vũ Tiến Thịnh
- Ông Vũ Việt Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 189/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Phan Trung Đ, sinh ngày 13/5/1994; Nơi cư trú: Số nhà 06, ngõ 707, đường L, tổ 15, phường T, thành phố T1, tỉnh T1; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phan Doãn C và bà Trần Thị C1; Chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thu Y và có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án: Bản án số 114/2021/HSST ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Q xử Phan Trung Đ 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/8/2022. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/02/2022.
Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 19/8/2023 đến ngày 25/8/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình. (có mặt)
- Người chứng kiến:
- + Ông Trần Xuân Q1, sinh năm 1969. (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn L1, xã V, thành phố T1, tỉnh T1.
- + Ông Dương Ngọc H, sinh năm 1985. (vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số nhà 10, tổ 05, phường B, thành phố T1, tỉnh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/8/2023, Phan Trung Đ đi xe ôm từ nhà đến khu vực đê sông T2, thuộc tổ 01, phường K, thành phố T1, tỉnh T1 thì xuống xe, trả tiền xe rồi đi bộ một đoạn, gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 300.000 đồng được 01 túi ma túy đá. Sau đó, Đ cầm túi ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi Đ đi đến khu vực đường Đ1, tổ 03, phường K, thành phố T1, tỉnh T1 thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Trần Xuân Q1 và ông Dương Ngọc H, Đ tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá của Đ mua để sử dụng cho bản thân, kiểm tra người Đ không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 23/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Phan Trung Đ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1856 gam (không phẩy một nghìn tám trăm năm mươi sáu gam).
Bản Cáo trạng số 196/CT-VKSTPTB ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phan Trung Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Trung Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Trung Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Trung Đ mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 1249/KL-KTHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Phan Trung Đ nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Trung Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 19/8/2023, tại khu vực đường Đ1, tổ 03, phường K, thành phố T1, tỉnh T1, Phan Trung Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1856 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của Phan Trung Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Phan Trung Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bản án số 114/2021/HSST ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Q xử Phan Trung Đ 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, do đó bị cáo Phan Trung Đ phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phan Trung Đ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Phan Trung Đ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Phan Trung Đ khai mua ma túy của một người nam giới, không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đê sông T2, tổ 01, phường K, thành phố T1, tỉnh T1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Trung Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Trung Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19/8/2023).
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Phan Trung Đ hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 1249/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Bị cáo Phan Trung Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/10/2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |
Bản án số 196/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 196/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
