|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2024/HS-ST Ngày: 30 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và ông Nguyễn Quang Huy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2024/TLST-HS, ngày 01/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: HOÀNG THÀNH LUÂN, sinh ngày 03/02/1989 tại tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D (Đã chết) và bà Giáp Thị Q. Có vợ Lưu Thị T (Đã ly hôn), chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/9/2012 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng 09 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1993.
Nơi đăng ký HKTT: Xóm R, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Những người làm chứng:
- Anh Nguyễn Chu T1, sinh năm 1984.
Trú tại: Xóm R, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Trần Mạnh T2, sinh năm 1985.
Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Dương Mạnh H, sinh năm 1992.
Trú tại: Xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/9/2021, anh Nguyễn Văn Q1 được Trần Mạnh T2 rủ đi chơi tại khách sạn L1 thuộc tổ A, phường T, thành phố T. Sau khi thanh toán xong, ngày hôm sau, T2 gọi điện thông báo cho anh Q1 là số tiền anh Q1 phải trả cho T2 là 3.000.000 đồng, T2 và anh Q1 thỏa thuận nếu anh Q1 tìm được nữ nhân viên rót bia quán karaoke cho T2 thì T2 sẽ xóa nợ cho anh Q1, anh Q1 đồng ý. Sau đó, T2 thường xuyên gọi điện cho anh Q1 giục tìm nhân viên cho T2 nhưng anh Q1 chưa tìm được.
Khoảng 10 giờ ngày 31/10/2021, sau khi liên lạc với anh Q1, T2 cùng Hoàng Thành L và Dương Mạnh H đi trên xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning màu sơn trắng (chưa rõ BKS) do L điều khiển đến khu vực đường T để đón anh Q1, trên đường đi, T2 và anh Q1 có nói chuyện về việc đi đón nhân viên. Sau đó cả nhóm đến nhà em gái T2 ở huyện Đ ăn cơm. Sau khi ăn xong đến khoảng 13 giờ cùng ngày, cả nhóm về lại thành phố T. Trên đường đi T2 tiếp tục hỏi anh Q1 về việc đi đón nhân viên, anh Q1 tuy chưa tìm được nhân viên cho T2 nhưng lại nói dối là hiện tại có một nhân viên ở chung cư T nhưng nhân viên đó đang nợ chủ cũ số tiền 6.000.000 đồng, anh Q1 không có tiền trả hộ nên chưa đón được nhân viên. T2 nói T2 đưa cho anh Q1 3.000.000 đồng, anh Q1 bỏ ra 3.000.000 đồng để đi đón nhân viên nhưng anh Q1 nói anh Q1 không có tiền. Sau đó, cả nhóm đi về quán K thuộc tổ A, phường P, thành phố T (do T2 làm chủ). Tại đây, T2 và anh Q1 ngồi tại khu vực bàn ghế ở giữa quán, L ngồi ở gần vị trí của anh Q1 và T2, H đi xuống bếp lấy nước uống. Lúc này trong quán có 02 nữ nhân viên (chưa rõ lai lịch, địa chỉ), T2 yêu cầu nữ nhân viên đóng cửa cuốn của quán lại rồi tiếp tục nói chuyện với anh Q1 về việc đón nhân viên nhưng anh Q1 nói chưa đón được, anh Q1 bảo chưa có tiền để đi đón nhân viên và nói sẽ tự đi đón vào hôm khác, T2 không đồng ý. T2
bực tức dùng tay tát 02 cái vào mặt của anh Q1, ghì cổ anh Q1 xuống, dùng chân đá nhiều cái vào vùng ngực, bụng của anh Q1. Thấy vậy, H và L cũng lao vào dùng tay, chân đấm, đá vào vùng ngực, bụng và người anh Q1. Sau đó, T2 bảo dừng lại nên cả nhóm không đánh anh Q1 nữa. T2 và anh Q1 tiếp tục ngồi tại bàn giữa quán để nói chuyện, H và L lên tầng 2 của quán để thay quần áo. Sau đó, T2 bảo L, H đưa T2 về nhà hàng T4 thuộc tổ A, phường T, thành phố T (do T2 làm chủ). Trên đường, T2 đưa cho anh Q1 3.000.000 đồng để anh Q1 đi đón nhân viên, nhận tiền từ T2, anh Q1 để số tiền 3.000.000 đồng vào ngăn phía sau ghế phụ phía trước. Về đến nhà hàng T4, T2 xuống xe rồi bảo H, L đưa anh Q1 đi đón được nhân viên thì đưa nhân viên về quán K. L và H tiếp tục đưa anh Q1 đến khu vực chung cư T để đón nhân viên. Khi đi đến khu vực H thuộc tổ C, phường T, thành phố T, anh Q1 bảo L, H cho anh Q1 vào nhà anh trai mình là anh Nguyễn Chu T1 có việc. L và H đỗ xe ô tô ở rìa đường để chờ anh Q1. Khi anh Q1 vào nhà anh T1 có hỏi vay của anh T1 số tiền 3.000.000 đồng nhưng anh T1 không có nên chỉ đưa cho anh Q1 số tiền 500.000 đồng. Sau đó, anh Q1 đi ra xe ô tô, để tờ tiền 500.000 đồng vào ghế phụ phía trước của xe rồi nói với L và H là không đón được nhân viên và sẽ gọi điện cho T2 nói chuyện sau. Nói xong anh Q1 đi vào nhà anh T1, L và H lái xe rời khỏi đó. Anh Q1 ở lại quán của anh T1 rồi về nhà, đến sáng ngày 01/11/2021, anh thấy đau nhiều nên đã tới Bệnh viện A để khám và điều trị.
Hậu quả: Anh Nguyễn Văn Q1 điều trị tại Bệnh viện A từ ngày 01/11/2021 đến ngày 08/11/2021 thì ra viện. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 65/TgT ngày 07/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Gãy cung bên xương sườn số 6 bên (P), tỷ lệ 2%. Gãy cung bên xương sườn số 7 bên (P), tỷ lệ 2%. Gãy cung bên xương sườn số 5 bên (T), tỷ lệ 2%. Gãy cung bên xương sườn số 6 bên (T), tỷ lệ 2%. Gãy cung bên xương sườn số 7 bên (T), tỷ lệ 2%. Gãy cung bên xương sườn số 8 bên (T), tỷ lệ 2%. Gãy xương sườn số 9 bên (T) tỷ lệ 2,5%. Gãy xương sườn số 10 bên (T) tỷ lệ 2,5%. Gãy cung sau xương sườn số 11 bên (T) tỷ lệ 2%. Gãy cung sau xương sườn số 12 bên (T) tỷ lệ 2%. Tổn thương màng phổi tỷ lệ 3%. Tổn thương nhu mô phổi, tỷ lệ 6%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%. Áp dụng phương pháp tính theo Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thành L đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình. Luân xác định bản thân L không có quan hệ quen biết gì với anh Nguyễn Văn Q1, ngày 31/10/2021 là lần đầu tiên L gặp anh Q1, cả hai không có mâu thuẫn gì với nhau. Nguyên nhân Luân đánh anh Q1 chỉ là vì thấy Trần Mạnh T2 đánh anh Q1 nên L cũng xông vào đánh cùng để giúp T2, không có mục đích gì
khác. Đối với Dương Mạnh H, Trần Mạnh T2 là người có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Q1 cùng Hoàng Thành L, vào các ngày 14/12/2023 và ngày 27/6/2024 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã xét xử Dương Mạnh H, Trần Mạnh T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: H L cùng Trần Mạnh T2, Dương Mạnh H đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q1 số tiền 80.000.000 đồng, anh Q1 đã nhận tiền, không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thành L khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Bản cáo trạng số 181/CT-VKSTPTN, ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Thành L về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thành L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng T3 Luân từ 30 đến 36 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của những
người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 13 giờ ngày 31/10/2021, tại quán K thuộc tổ A, phường P, thành phố T, mặc dù không có quan hệ quen biết, không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn Q1 nhưng H L đã có hành vi cùng với Trần Mạnh T2, Dương Mạnh H dùng chân tay đấm, đá vào vùng ngực, bụng và người của anh Nguyễn Văn Q1 khiến anh Q1 bị gãy cung bên xương sườn số 6, 7 bên phải; gãy cung bên xương sườn số 5, 6, 7, 8 bên trái; gãy xương sườn số 9, 10 bên trái; gãy cung sau xương sườn số 11, 12 bên trái; tổn thương màng phổi; tổn thương nhu mô phổi, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Q1 do thương tích gây nên là 26%. Hành vi nêu trên của H, T2, L có tính chất côn đồ. Về trách nhiệm dân sự, H, T2, L đã bồi thường cho anh Q1 số tiền 80.000.000 đồng, anh Q1 đã nhận tiền, không yêu cầu đề nghị gì khác.
Hành vi của bị cáo Hoàng Thành L nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- i) Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
- đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
- [3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác động của tội phạm do mình gây ra sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây mất an
ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình; quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã cùng với Trần Mạnh T2, Dương Mạnh H dùng tiền của mình (số tiền của L là 20.000.000 đồng) để bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
- [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Thành L đã tự nguyện cùng với Trần Mạnh T2, Dương Mạnh H bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn Q1 số tiền 80.000.000 đồng (trong đó của bị cáo L bồi thường với số tiền 20.000.000 đồng). Quá trình điều tra cũng như tại đơn xin vắng mặt người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bên đã bồi thường xong, nên không đặt ra giải quyết.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm dân sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
- [6] Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng T3 Luân với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- [7] Khi L cùng với T2, H có hành vi đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Q1 thì anh Q1 có đưa cho L, H số tiền 500.000 đồng. Quá trình điều tra xác định khi xảy ra sự việc, L không có lời nói yêu cầu anh Q1 phải đưa tiền và việc L đánh anh Q1 không phải với mục đích đòi tiền nên không có căn cứ để xử lý L về tội “Cướp tài sản” hay “Cưỡng đoạt tài sản”.
Trong vụ án này, hành vi “Cố ý gây thương tích” của Dương Mạnh H, Trần Mạnh T2 đối với anh Nguyễn Văn Q1 cũng đều đã bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử vào các ngày 14/12/2023 và ngày 27/6/2024.
- [8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để nộp ngân sách Nhà nước.
- [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thành L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt H Luân 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/5/2024.
- Quyết định tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng T3 Luân với thời hạn là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tiếp.
- Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo Hoàng Thành L), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại (anh Nguyễn Văn Q1), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |
Bản án số 196/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 196/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thành L tội Cố ý gây thương tích
