Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/DS-PT

Ngày: 28/8/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong.

Các Thẩm phán: ông Hoàng Ngọc Linh và bà Phan Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: ông Lý Trương Khang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 146/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 232/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Tống Văn Í, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ C, khóm X, thị trấn T, huyện T (nay là phường T, thị xã T), tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ I, khóm T, thị trấn N, huyện T (nay là phường N, thị xã T) tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn K (chết năm 2019)

Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông K gồm:

  1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 (vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963 (vắng mặt);
  3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt);
  4. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974 (vắng mặt);
  5. Bà Nguyễn Thị Út C (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

6. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ D, khóm X,

2

phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

7. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; nơi cư trú: ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2018, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Tống Văn Í trình bày:

Ông với ông Nguyễn Văn K là anh em cùng mẹ khác cha.

Năm 1977 – 1978, ông Í có khai phá diện tích đất tại C (Xuân Tô cũ) nay thuộc khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang diện tích ngang 25 mét dài 50 mét. Đến năm 1983, gia đình ông được ông Tư P, thời điểm đó là Bí thư xã X (nay là phường T) cấp cho mẹ ông là bà Trịnh Thị H3 diện tích đất ngang 15 mét dài 50 mét tại khu vực Cua 15 xã X cũ (chỉ nghe mẹ ông là bà H3 nói lại là cấp cho mẹ ông chứ ông cũng không biết giấy tờ đó như thế nào). Thời điểm này ông là bộ đội công tác tại CamPuChia, nên ông giao toàn bộ nhà đất cho mẹ và chị là bà Nguyễn Thị Đ là chị em cùng mẹ khác cha và là em cùng mẹ cùng cha với ông K quản lý.

Ông K cũng được ông Tư P cấp đất, nhưng sau đó ông K bán cho ông Ấp D1, nên xin qua ở đất cấp cho mẹ ông là bà H3 khoảng năm 1987;

Năm 1988 – 1989 ông Í phục viên nhưng không thường xuyên ở nhà mà đi lên Campuchia mua bán, bà H3 chết năm 1991 nhưng ông Í không về được. Năm 2001 ông Í về cất nhà phía sau khu đất nhưng ở được vài tháng lại tiếp tục đi lên CamPuChia mua bán, đến năm 2005 ông trở về thì phát hiện nhà của ông bị dỡ, đất ông K đã bán, ông khiếu nại đến nhiều cơ quan cho đến nay nhưng không được giải quyết. Về hiện trạng hai căn nhà của ông được kết cấu bằng cây, mái lợp tol, vách lá, nền đất.

Ông Í xác định ông Tư P cấp đất có giấy tờ cho mẹ ông Trịnh Thị H3, mà ông chỉ nghe mẹ ông nói lại chứ ông cũng không thấy giấy tờ của ông P cấp. Thời gian sau này, ông Í đăng ký để cấp đất tại địa chính huyện T (không nhớ năm), nhưng được địa chính huyện cấp đất diện tích ngang 15 mét dài 50 mét.

Việc ông K có thỏa thuận bồi hoàn đất cho người dân tộc Khmer CamPuChia ông Í có biết, nhưng là thỏa thuận bồi hoàn phần diện tích đất phía sau, còn đất của gia đình ông là phía trước.

Đất hiện nay ông K đã chuyển nhượng cho ông Phan Văn N là đất của gia đình ông phía trước và đất của ông K thỏa thuận với người dân tộc phía sau.

Do diện tích đất hiện ông K đã chuyển nhượng cho ông N vào năm 2007, ông K chết năm 2019, nên ông Í yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn K phải bồi hoàn giá trị đất diện tích ngang 15 mét, dài 50 mét tại C X cũ, nay thuộc khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang và hai căn nhà bằng số tiền là 5.500.000.000 đồng (năm tỷ, năm trăm triệu đồng).

Ông Tống Văn Í xác nhận diện tích đất mà ông yêu cầu những người

3

thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K phải bồi hoàn là diện tích đất ông K chuyển nhượng cho ông Phan Văn N và hiện nay các con của ông N đang quản lý sử dụng.

Người kế thừa quyền nghĩa vụ của bị đơn ông Nguyễn Văn K do ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị S cùng trình bày:

Về nguồn gốc đất mà ông Í đang tranh chấp trước đây ông Nguyễn Văn K (là cha của các ông bà) được Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay là phường T) đứng ra giải quyết tranh chấp với người dân tộc Khmer, hai bên thỏa thuận ông K bồi hoàn giá trị đất cho ông Chau N1 và được giữ nguyên diện tích đất sử dụng. Sau đó ông K đi đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K diện tích 762,4m². Năm 2007, ông K chuyển nhượng toàn bộ diện tích này cho ông Phan Văn N và hiện nay các con của ông N đang quản lý sử dụng diện tích đất này. Ông K chết năm 2019, bà Nguyễn Thị D2 (vợ ông K cũng chết năm 2015), ông K chết không để lại di sản gì và cũng không còn đất gì nữa.

Do đất của ông K không liên quan gì đến ông Tống Văn Í, nên ông M, ông H2 và bà S không chấp nhận yêu cầu của ông Tống Văn Í.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tống Văn Í về việc yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn K phải bồi hoàn giá trị đất và nhà với số tiền là 5.500.000.000 đồng (năm tỷ, năm trăm triệu).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 25/01/2024, ông Tống Văn Í kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 24/01/2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Tống Văn Í giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo, yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn K phải bồi hoàn giá trị đất và nhà với số tiền là 5.500.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.

4

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Tống Văn Í, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn ông Tống Văn Í làm đơn kháng cáo và thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm, theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới; Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Tống Văn Í, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Ông Tống Văn Í cho rằng diện tích đất ngang 25 mét dài 50 mét tọa lạc tại C, xã X, huyện T (nay là khóm X, phường T, thị xã T) và 02 căn nhà trên đất là do ông khai phá vào năm 1977 – 1978. Năm 1983, được ông Tư P là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X (nay là phường T) cấp cho gia đình ông diện tích ngang 15m, dài 50 m nhưng ông không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về quyền sử dụng đất của mình.

[2.2] Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diện tích đất tranh chấp tại ấp X, xã X, huyện T, tỉnh An Giang (nay là khóm X, phường T, thị xã T) có nguồn gốc của ông Chau N1 khai phá. Năm 2001, ông N1 khiếu kiện đòi đất được ông Nguyễn Văn K trực tiếp thương lượng bồi hoàn giá trị đất, có sự chứng kiến của Ủy ban nhân dân thị trấn T. Sau khi bồi hoàn giá trị đất cho ông Chau N1, ông K đi đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03307/gK ngày 06/06/2002, diện tích 762,4m² số thửa 88, tờ bản đồ số 27 tại ấp X, xã X, huyện T, tỉnh An Giang (nay là khóm X, phường T, thị xã T), tỉnh An Giang. Ngày 12/03/2007 ông Nguyễn Văn K chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông Phan Văn N và hiện các con của ông N đang quản lý sử dụng.

Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tống Văn Í yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn K phải bồi hoàn giá trị đất và 02 căn nhà với số tiền 5.500.000.000 đồng là có căn cứ.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Í; giữ nguyên bản án sơ thẩm

5

của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về án phí phúc thẩm: ông Í được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Tống Văn Í. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Áp dụng:

Căn cứ Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 166, Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tống Văn Í về việc yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn K phải bồi hoàn giá trị đất và nhà với số tiền là 5.500.000.000 đồng (năm tỷ, năm trăm triệu).

Ông Tống Văn Í được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp - HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND Tx. Tịnh Biên;
  • - VKSND TX. Tịnh Biên;
  • - CCTHADS Tx. Tịnh Biên;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 196/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Tống Văn Í BĐ: Nguyễn Văn K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger