Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HSST

Ngày 22/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quốc Thái

Bà Tô Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Long Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2024/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN HOÀNG M1 – SN 1968Giới tính: Nam

HKTT: P1B3 tập thể Văn Chương, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: P B tập thể V, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12;

Họ tên bố: Trần Văn M; Họ tên mẹ: Trần Thị Thanh N; Họ tên vợ: Trần Thị Thu N1; Có 03 con ( lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2018) Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 184 ngày 15/11/1990 và Bản án hình sự phúc thẩm số 420 ngày 17/04/1991 của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Trần Hoàng M1 05 năm tù về tội Cướp tài sản công dân.

Bị tạm giữ từ ngày 05/5/2024 đến ngày 13/5/2024 huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

Bị hại: Chị Bùi Anh T, SN 2006 ( Có mặt tại phiên tòa)

Trú tại: Số A tổ B phường T, quận H, TP . ( Có đơn xử vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng C, SN 1983

Trú tại: Số A tổ B phường T, quận H, TP. ( Có đơn xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút sáng ngày 25/4/2024, Trần Hoàng M1 một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu ghi xám, BKS 29E1-068.85 đến Sở Tư Pháp Hà Nội - số 221 đường T, phường V, quận H, TP Hà Nội và để xe máy trong khuôn viên Sở Tư Pháp Hà Nội (không có vé gửi xe) để làm thủ tục xin cấp lý lịch tư pháp. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày M1 lấy số tại phòng cấp lý lịch tư pháp và ngồi chờ thì được thông báo số thứ tự của M1 phải đến chiều mới đến lượt nên M1 đi ra ngoài để lấy xe đi về. Khi M1 đi ra vị trí để chiếc xe máy của M1 thì thấy có một số chiếc xe máy để phía bên ngoài xe của M1, M1 dắt gọn một số chiếc xe máy để phía bên ngoài để lấy chiếc xe của mình ra. Trong lúc dắt xe, M1 phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu trắng, BKS 29H1 694.01 chìa khoá cắm ở ổ khoá dựng bên cạnh chiếc xe của M1. Lúc này, M1 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe của chị Bùi Anh T, M1 quan sát thấy chiếc xe không có người trông giữ, M1 ngồi lên xe chiếc xe của cháu T, nổ máy và điều khiển xe đi đến hầm của Toà nhà chung cư ở số A T, phường V, quận H, M1 gửi xe của cháu T tại bãi gửi xe trong hầm tòa chung cư. Sau khi gửi xe, M1 đi bộ quay lại Sở Tư Pháp Hà Nội lấy xe máy nhãn hiệu Honda Lead, màu ghi xám, BKS 29E1-068.85 của mình rồi đi về nhà và không nói cho ai biết việc vừa trộm cắp được trên.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày 25/4/2024, Bùi Anh T đi ra lấy xe, thì phát hiện chiếc xe máy Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01 của mình bị trộm cắp.

Ngày 01/5/2024, Bùi Anh T đã đến Công an phường V, quận H, Hà Nội trình báo sự việc.

Ngày 05/5/2024, Trần Hoàng M1 đến Công an phường V xin đầu thú và tự nguyện giao nộp chiếc xe máy Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01 đã chiếm đoạt. Công an phường V đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an quận H để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 01/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận L được đơn trình báo của chị Doãn Thị T1 về việc bị kẻ gian trộm cắp 01 xe máy Honda SH 125 Mode màu đen, BKS: 29Y3 - 272.39 tại tầng 1 - nhà số A ngõ A H, phường B, L, Hà Nội.

Vật chứng thu giữ: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu trắng, BKS 29H1- 694.01, số máy 0406926, số khung RLHJF5803EY1212, đã qua sử dụng, là tài sản Trần Hoàng M1 đã chiếm đoạt của cháu Bùi Anh T.

Ngày 05/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã yêu cầu định giá số 3827 đối với 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu trắng, BKS 29H1- 694.01, là tài sản Trần Hoàng M1 đã chiếm đoạt của cháu Bùi Anh T đã thu giữ nêu trên.

Tại biên bản họp và Kết luận định giá tài sản số 76 ngày 05/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tựng hình sự quận H, kết luận: “Giá trị tài sản 01 chiếc xe máy Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01 có trị giá 18.656.000 đồng”. (BL 33-36)

Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01, đã thu giữ. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe được đăng ký sở hữu mang tên Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1983 ở tổ B T, quận H, thành phố Hà Nội(là mẹ của cháu Bùi Anh T). Bà Nguyễn Thị Hồng C trình bày: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01 do chị C mua mới từ năm 2016, xe đăng ký chính chủ chị C. Ngày 7/05/2024 chị C có đơn xin lại chiếc xe. Ngày 08/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2926 và trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29H1- 694.01 cho chị C.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu ghi xám BKS: 29E1-068.85 kết quả tra cứu thể hiện. Chiếc xe trên được đăng ký chính chủ mang tên Trần Hoàng M1, sinh năm 1968, hiện đang ở P TT V, quận Đ, thành phố Hà Nội, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không liên quan đến vụ Trộm cắp tài sản ngày 28/04/2024, xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 08/05/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2926, bằng hình thức trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu ghi xám BKS: 29E1-068.85 cho Trần Hoàng M1 là có căn cứ.(BL46)

Trước Cơ quan điều tra, Trần Hoàng M1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. BL 120-136

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng M1 từ tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Hạn thử thách tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng M1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong quyết định truy tố ; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, bị cáo xác nhận không bị oan sai.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có điều kiện cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại khu vực để xe máy dành cho khách của Sở Tư Pháp thành phố Hà Nội, thuộc phường V, quận H, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Trần Hoàng M1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Hồng C là 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu trắng, BKS 29H1- 694.01 giá trị 18.656.000 đồng (Mười tám triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Hoàng M1 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hoàng M1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Hoàng M1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đầu thú, Người bị hại là ...... có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

[5]. Về nhân thân: Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 184 ngày 15/11/1990 và Bản án hình sự phúc thẩm số 420 ngày 17/04/1991 của Tòa phúc thẩm-Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Trần Hoàng M1 05 năm tù về tội : Cướp tài sản công dân. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/08/1994.

[6]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm khắc để bị cáo lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân nhưng không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn có tác dụng giáo dục để bị cáo sửa chữa những sai lầm của mình có cơ hội trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị ...... đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không phải xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT - Công an quận L đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả xe máy. cho bị hại là; t là có căn cứ pháp luật.

[10]. Về án phí : Căn cứ 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết:

  1. Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng M1 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Hạn thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Hoàng M1 cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, Thành Phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời hạn thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng M1 phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Trâm Anh

Nơi nhận:

  • -VKS nhân dân quận Long Biên;
  • - Công an quận Long Biên;
  • - Chi cục THADS quận Long Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 196/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng M1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger