TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 196/2025/HS-ST Ngày: 25-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Cúc;
Ông Nguyễn Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân khu vực 3 - Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2025/TLST-HS, ngày 06/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2025/QĐXXST-HS, ngày 02/12/2025 đối với:
Bị cáo: Phạm Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai. CCCD [...]. Nơi cư trú: 311A, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai). Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị N (đã chết). Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 15/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 06 tháng tù giam về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" tại Bản án số 170/2023/HS-ST, ngày 13/3/2024 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị giam giữ từ ngày 15/11/2024 đến nay, hiện đang giam giữ tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Đ. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 25 phút ngày 15 tháng 11 năm 2024, Công an xã H 3 tuần tra đoạn đường S thuộc ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai) phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn T thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Cao Trung H. Công an xã H 3 đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tại khe nhựa bên hông trái của xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 60B9-526.34 do T điều khiển 01 gói giấy hình chữ nhật (có kích thước dài 02cm và rộng 01cm), bên ngoài được dán bằng băng keo 02 mặt và bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá. Thu giữ trong túi quần bên phải của T đang mặc số tiền 80.000 đồng, gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 60B9-526.34. T khai nhận số tiền trên là tiền Cao Trung H đưa cho T để mua ma túy, T chưa kịp giao ma túy cho H thì bị bắt quả tang. 21 giờ 35 phút cùng ngày, Công an xã H 3 kiểm tra hành chính nhà ở của Phạm Văn T và phát hiện, thu giữ: 02 cây kéo dài 16 cm, nhiều mảnh giấy vở học sinh được cắt nhỏ có hình chữ nhật, 02 túi nylon dạng túi kẹp có kích thước 9x8cm và 10x9,5cm, bên trong 02 túi còn bám dính chất màu trắng, 02 ống hút nhựa màu trắng có kích thước 13 cm và 11 cm được hàn kín một đầu, đầu còn lại được gọt chéo, bên trong còn bám dính chất màu trắng. Tính khai nhận các dụng cụ trên để phân chia ma túy. Công an xã H 3 đã lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển hồ sơ, đồ vật, tài liệu thu giữ cùng đối tượng Phạm Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định số 2367/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận:
- "+ Mẫu chất tinh thể (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0797 gam, loại: Methamphetamine.
- + Mẫu chất màu trắng bám trong ống nhựa, gói nylon (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng ".
Ngày 23/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.
Quá trình điều tra xác định như sau:
Phạm Văn T là người không có nghề nghiệp ổn định, bản thân không sử dụng ma túy. Vào khoảng đầu tháng 10/2024, đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà T tại ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp N, phường H, tỉnh Đồng Nai) chơi và cho T 01 (một) gói ma túy đá để T sử dụng nhưng T không sử dụng mà dùng kéo, ống hút phân ma túy đá vào các gói giấy nhỏ rôi quấn băng keo bên ngoài gói giấy để bán cho người khác để thu lợi. Người mua ma túy liên hệ với T qua số điện thoại 0908.495.xxx để trao đổi và thống nhất số lượng, số tiền và địa điểm giao ma túy, sau khi thống nhất địa điểm Tính đến điểm hẹn gặp người mua để bán ma túy và nhận tiền. Với cách thức này, T đã bán ma túy cho Cao Trung H 02 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 29/10/2025, T đang ở nhà thì Cao Trung H gọi điện thoại đặt mua 01 (một) gói ma túy với số tiền 100.000 đồng, T đồng ý và hẹn giao ma túy cho H tại đường S, thuộc ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (cách nhà T khoảng 50m). Tính lấy ông hút nhựa xúc ma túy từ gói ma túy mà T2 đưa cho T vào tờ giấy rồi gói lại và bán gói ma túy này cho H với số tiền 100.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ 09 phút ngày 15/11/2024, Cao Trung H gọi điện cho T đặt mua 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 80.000 đồng, T đồng ý và hẹn giao ma túy cho H tại đường S, thuộc ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (cách nhà T khoảng 50m) thì H đồng ý. Tính điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 60B9- 526.34 mang theo 01 (một) gói giấy chứa ma túy để ở bên trong khe nhựa phía bên hông trái của xe mô tô rồi đi đến điểm hẹn gặp H, tại đây H đưa cho T số tiền 80.000 đồng để mua ma túy đá, T nhận tiền và bỏ vào túi quần bên phải đang mặc, khi T đang định lấy gói giấy chứa ma túy đá ở miếng nhựa bên hông xe mô tô 60B9- 526.34 để bán cho H thì bị Công an xã H phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra, quá trình điều tra T còn khai nhận: vào ngày 11/11/2024 T bán cho đối tượng tên K (không rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma túy đá tại gần khu vực giáo xứ N, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai với số tiền 300.000 đồng.
Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 15/11/2025, Nguyễn Văn B sử dụng điện thoại gắn sim số 0896.908.xxx gọi cho Phạm Văn T qua số điện thoại 0908.495.xxx và đặt mua 150.000 đồng ma túy đá, T đồng ý và hẹn B đứng chờ T ở khu vực nghĩa địa S để mua bán ma túy. Tuy nhiên, do T bị Công an xã H 3 bắt giữ khi bán ma túy cho Cao Trung H nên chưa bán được ma túy cho B.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 2367/KL-KTHS ngày 28/11/2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh Đ.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số thuê bao: 0908.495.874 và số tiền 80.000 đồng của Phạm Văn T bị Công an xã H 3 thu giữ là tiền thu lợi bất chính và công cụ dùng vào việc phạm tội.
- Số tiền 100.000 đồng là tiền thu lợi từ việc Phạm Văn T bán ma túy cho Cao Trung H vào khoảng cuối tháng 10/2024, đầu tháng 11/2024.
- 02 (hai) cây kéo bằng sắt dài 16cm và 30 mảnh giấy là công cụ dùng vào việc phạm tội.
- 01 (một) xe môtô hiệu Honda Winner biển số 60B9- 52.634: Phạm Văn T khai nhận là xe của ông Phạm Văn T1 (là bố ruột của T). Ngày 15/11/2024, T mượn xe trên đi công việc, việc T sử dụng xe trên đi bán trái phép chất ma túy thì ông T1 không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ được nguồn gốc xe mô tô trên.
Cáo trạng số 22/CT-VKS-KV3, ngày 30/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Quá trình điều tra ban đầu bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, sau đó khai báo quanh co, không nhận tội, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, do đó đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất may túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị: tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 2367/KL-KTHS ngày 28/11/2024 của Phòng K1 (PC09) Công an tỉnh Đ; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số thuê bao: 0908.495.874 và số tiền 80.000 đồng của Phạm Văn T bị Công an xã H 3 là tiền thu lợi bất chính và công cụ dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây kéo bằng sắt dài 16cm và 30 mảnh giấy là công cụ dùng vào việc phạm tội; buộc bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền 100.000 đồng là tiền thu lợi từ việc Phạm Văn T bán ma túy cho Cao Trung H vào khoảng cuối tháng 10/2024, đầu tháng 11/2024 để sung vào ngân sách nhà nước. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 29/10/2025 đến ngày 15/11/2024 tại ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là phường H, tỉnh Đồng Nai) Phạm Văn T đã thực hiện hành vi bán ma túy trái phép cho Cao Trung H 02 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 29/10/2025, T bán cho Cao Trung H 01 gói ma túy đá với giá 100.000 đồng tại đường S, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Lần thứ hai: Vào khoảng 20 giờ 25 phút ngày 15/11/2024 tại đường S, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T bán cho Cao Trung H 0,0797 gam ma túy, loại: Methamphetamine (ma túy đá) với giá 80.000 đồng, thì bị Công an xã H 3 phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác, đã phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt và biện pháp ngăn chặn.
Quá trình điều tra ban đầu bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, sau đó khai báo quanh co, không nhận tội, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khoản 17 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP, ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, thể hiện việc coi thường pháp luật và đã phạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số thuê bao: 0908.495.874 và số tiền 80.000 đồng của Phạm Văn T bị Công an xã H 3 thu giữ là tiền thu lợi bất chính và công cụ dùng vào việc phạm tội;
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây kéo bằng sắt dài 16cm và 30 mảnh giấy là công cụ dùng vào việc phạm tội;
- (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2025 và Biên lai thu tiền số 0001321 ngày 05/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)
- Buộc bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền 100.000 đồng là tiền thu lợi từ việc Phạm Văn T bán ma túy cho Cao Trung H vào khoảng cuối tháng 10/2024, đầu tháng 11/2024 để sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với đối tượng tên T2 là người đưa ma túy cho Phạm Văn T và đối tượng tên K là người mua ma túy của Phạm Văn T vào ngày 11/11/2024, do không có thông tin đầy đủ về họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh để xử lý.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cao Trung H, Công an xã H 3, huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ.
- Đối với hành vi thỏa thuận mua bán 150.000 đồng ma túy giữa Phạm Văn T và Nguyễn Văn B, do B chưa đưa tiền và T chưa chuẩn bị ma túy để bán cho B nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Honda Winner biển số 60B9- 52.634: Phạm Văn T khai nhận là xe của ông Phạm Văn T1 (là bố ruột của T). Ngày 15/11/2024, T mượn xe trên đi công việc, việc T sử dụng xe trên đi bán trái phép chất ma túy thì ông T1 không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ được nguồn gốc xe mô tô trên nên tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
[7] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ 15/11/2024.
- Biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tạm giam bị cáo Phạm Văn T thời hạn là 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để bảo đảm thi hành án.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số thuê bao: 0908.495.874 và số tiền 80.000 đồng của Phạm Văn T bị Công an xã H 3 thu giữ là tiền thu lợi bất chính và công cụ dùng vào việc phạm tội;
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây kéo bằng sắt dài 16cm và 30 mảnh giấy là công cụ dùng vào việc phạm tội;
- (Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2025 và Biên lai thu tiền số 0001321 ngày 05/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai);
- Buộc bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền 100.000 đồng là tiền thu lợi từ việc Phạm Văn T bán ma túy cho Cao Trung H vào khoảng cuối tháng 10/2024, đầu tháng 11/2024 để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 196/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 196/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 129/2025/HS-ST Phạm Văn T Mua bán trái phép chất ma túy
