Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Khánh Long

Ông Triệu Láth

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 418/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài P là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 435/GUQ-NHNo-VC ngày 27/9/2024) (ông P có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lê Minh T; sinh năm: 1968 (có mặt)

Địa chỉ: Số 198, Khóm Tân Qui, phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị T1; sinh năm: 1968 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số A, Khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Ông Lê Thành B; sinh năm: 1986 (vắng mặt)
  4. Ông Lê Thành D; sinh năm: 1988 (vắng mặt)
  5. Bà Lê Ngọc C; sinh năm: 1990 (vắng mặt)
  6. Bà Lý Ngọc M; sinh năm: 1985 (vắng mặt)
  7. Lê Thành Đ; sinh năm: 2007 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Lê Thành Đ: Ông Lê Thành B; sinh năm: 1986 (cha ruột cháu Đ) (ông Đ vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số A, Khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Hoài P trình bày:

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng với ông Lê Minh T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503, ngày 04/04/2019. Theo hợp đồng, ngân hàng N Chi Nam Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho Ông Lê Minh T vay số tiền 200.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm; lãi suất 10,5% /năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng.

Hợp đồng tín dụng số 7606LAY201900503 ngày 04/04/2019 trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014 được ký kết giữa ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 với Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1188144, có diện tích 52.668 m² (loại đất: LIL (3.668 m²), 1L (48.700 m²), T (300 m²), thửa số 136, 208, 418; tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại Khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do UBND huyện V (nay là UBND thị xã V) cấp ngày 14/02/1997 cho hộ ông Lê Minh T.

Tính đến hết ngày 10/05/2023, tổng nợ của ông Lê Minh T tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: 286.646.575 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc: 200.000.000 đồng.
  • Nợ lãi trong hạn: 62.482.192 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn: 24.164.384 đồng.
  • Nợ lãi chậm trả: 0 đồng.

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Lê Minh T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019, yêu cầu ông Lê Minh T thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014. Tuy nhiên, tính đến nay, Ông Lê Minh T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N.

Nay ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc ông Lê Minh T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019.
  • Trong trường hợp ông Lê Minh T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng N thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện, phía ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là các thửa đất số 208, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; yêu cầu bà Trần Thị T1 cùng liên đới với ông Lê Minh T trả nợ cho ngân hàng. Đồng thời, phía ngân hàng đồng ý không yêu cầu xem xét phát mãi phần nhà mộ có chiều ngang 7,5m, chiều dài 8,5m tồn tại trên thửa đất số 136 và đồng ý ổn định cho phía bị đơn lối đi vô mộ có chiều ngang 02m, chiều dài 42m, diện tích 84m² thuộc một phần thửa 136 và một phần thửa 418, tờ bản đồ số 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, và yêu cầu cụ thể như sau:

  • Buộc ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 327.826.456 đồng (trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.229.110 đồng, lãi quá hạn: 37.597.346 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019, kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.
  • Trường hợp ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 136 và thửa 418, tờ bản đồ số 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo Hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014 mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Minh T trình bày: Ông và bà Trần Thị T1 là vợ chồng, ông thừa nhận có vay ngân hàng N – Chi nhánh thị xã V nợ gốc là 200.000.000 đồng và nợ lãi phát sinh đúng như theo yêu cầu khởi kiện của phía ngân hàng. Tuy nhiên, hiện nay do kinh tế khó khăn, nuôi tôm thất nên không có khả năng thanh toán liền cho phía ngân hàng, khi vay có làm hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đúng theo như hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Khi vay vốn là để phục vụ cho nuôi tôm và sinh hoạt trong gia đình cũng như phục vụ nhu cầu thiết yếu trong gia đình. Nay ông và vợ là Trần Thị T1 thống nhất trả nợ còn thiếu cho ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần số tiền nêu trên. Trường hợp không có khả năng thanh toán thì ông cũng đồng ý cho ngân hàng phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Thành B trình bày: Vào năm 2013, ông được cha là Lê Minh T cho một phần đất để cất nhà ở tại vị trí, tứ cận cũng như thửa đất đúng như biên bản xem xét thẩm định ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án. Ông thống nhất với nội dung biên bản xem xét thẩm định cũng như vị trí tứ cận thửa đất và tài sản trên đất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ nêu trên mà Tòa án đã thẩm định. Khi cho đất thì không có làm giấy tờ, chỉ nói bằng miệng, khi mới cho đất, vào năm 2013 ông cất nhà lá để ở, đến năm 2017 thì ông xây nhà kiên cố như hiện nay. Thời điểm cho đất vào năm 2013 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha ông Lê Minh T đang thế chấp ngân hàng nên không thể làm thủ tục tặng cho ông được, sau này cha ông mới trả tiền cho ngân hàng lấy giấy chứng nhận về và tiếp tục thế chấp cho ngân hàng như hiện nay nên không tách quyền sử dụng đất cho tôi được. Đối với yêu cầu của ngân hàng trong trường hợp phía ông T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nợ vay thì yêu cầu phát mãi toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp trong đó có thửa đất và tài sản là căn nhà của ông gắn liền trên đất thì ông cũng thống nhất không có ý kiến gì, ông thống nhất với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà gia đình ông đã ký kết với ngân hàng. Ông sẽ cùng với cha ông Lê Minh T bàn bạc phương án trả nợ cho ngân hàng và xin ngân hàng cho thanh toán dần số tiền mà cha ông còn nợ. Trường hợp phải phát mãi thửa đất và tài sản gắn liền với đất thế chấp thì ông và gia đình thống nhất, không có ý kiến gì.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T1: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng N nhưng bà T1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà P1 và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1, ông Lê Thành B, ông Lê Thành D, bà Lê Ngọc C, bà Lý Ngọc M và Lê Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Minh T liên đới cùng với bà Trần Thị T1 phải trả nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 327.826.456 đồng (trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.229.110 đồng, lãi quá hạn: 37.597.346 đồng) và ông T, bà T1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số số 136 và thửa 418, tờ bản đồ số 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo Hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014 để thu hồi nợ. Trong trường hợp Ngân hàng N bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 136 và thửa 418 nêu trên thì dành quyền ưu tiên ông Lê Thành B, bà Lý Ngọc M được mua (nhận chuyển nhượng) đối với phần đất ông ông B, bà M đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp ông B, bà M có nhu cầu mua. Ghi nhận sự tự nguyện của phía nguyên đơn đồng ý không yêu cầu xem xét phát mãi phần nhà mộ tồn tại trên thửa 136 có chiều ngang 7,5m, chiều dài 8,5m, diện tích 63,75m² và đồng ý ổn định cho phía bị đơn lối đi vô mộ có chiều ngang 02m, chiều dài 42m, diện tích 84m² thuộc một phần thửa 136 và một phần thừa 418, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Lê Minh T2 có địa chỉ tại khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1, ông Lê Thành B, ông Lê Thành D, bà Lê Ngọc C, bà Lý Ngọc M và Lê Thành Đ đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơnvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Nguyên đơn thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 208 tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014; yêu cầu bà Trần Thị T1 cùng liên đới với ông Lê Minh T trả nợ cho ngân hàng, phía ngân hàng đồng ý không yêu cầu xem xét phát mãi phần nhà mộ tồn tại trên thửa đất số 136 và đồng ý ổn định cho ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 lối đi vô mộ có chiều ngang 02m, chiều dài 42m, diện tích 84m². Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đồng thời việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 208 tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014.

[4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Lê Minh T tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông T còn nợ lại tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Lê Minh T thanh toán nợ nhưng ông T không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Lê Minh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N yêu cầu bị đơn ông Lê Minh T phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 27/9/2024 số tiền là 327.826.456 đồng (trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.229.110 đồng, lãi quá hạn: 37.597.346 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Minh T trình bày, ông với bà Trần Thị T1 là vợ chồng và việc ông vay tiền ngân hàng là để phục vụ nuôi tôm cũng như phục vụ sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu trong gia đình. Đối với bà Trần Thị T1, trong quá trình giải quyết vụ án đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng bà T1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, việc ông Lê Minh T trình bày là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N yêu cầu bà Trần Thị T1 liên đới cùng ông Lê Minh T trả nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014 dùng tài sản là thửa số 136, 418 tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ ông Lê Minh T ngày 14/02/1997 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất thế chấp nêu trên thì: Thửa 418 có tồn tại tài sản sản gồm: 01 căn nhà của ông Lê Minh T, cụ thể: Nhà trước có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, nền lót gạch men, cột đúc, cửa nhôm, đòn tay gỗ dầu, vách tôn thiếc, nhà có chiều ngang 6,3m, chiều dài 9,5m (xây dựng năm 2003); nhà sau có kết cấu: Mái lợp tôn xi măng, nền lót gạch men, vách lá, của thiếc, đòn tay sắt + tầm vong, nhà có chiều ngang 11,5m, chiều dài 8,5m (xây dựng năm 2020); trên thửa đất số 418 và một phần thửa 136 có tồn tại 01 căn nhà của ông Lê Thành B và bà Lý Ngọc M, cụ thể: Phần nhà tiền chế và nhà nấu ăn (chung vách), có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, vách (ở giữa chung với nhà nấu ăn) tôn thiếc, vách nhà nấu ăn tôn thiếc, có chiều ngang 9,5m, chiều dài 07m; phần nhà chính có kết cấu: Mái tôn, trần laphong, của nhôm, nền lót gạch men, vách xây tường 10, cột đúc, nhà có chiều ngang 06m, chiều dài 12m + 3m + 11m (xây dựng năm 2013); trên thửa đất số 136 có tồn tại 01 phần nhà mộ của gia đình ông Lê Minh T gồm 03 ngôi mộ xây có chiều dài 8,5m, chiều ngang 7,5m, diện tích 63,75m² và chuồng heo của ông Lê Minh T có kết cấu: Mái lợp lá, vách lá + đúc, nền tráng ximăng, có chiều dài 7,5m, chiều ngang 5m (xây dựng năm 2021) và cây trồng gồm có: 29 cây dừa loại A, 11 cây dừa loại B, 07 cây me loại A, 02 cây mít loại A, 01 cây xoài loại A. Toàn bộ thửa đất nêu trên do hộ ông Lê Minh T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông T, bà T1 đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các thành viên trong hộ ông Lê Minh T và người đang quản lý, sử dụng đất gồm bà Trần Thị T1, ông Lê Thành B, ông Lê Thành D, bà Lê Ngọc C, bà Lý Ngọc M và Lê Thành Đ không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông T, bà T1 thế chấp quyền sử dụng đất. Hơn nữa đối với căn nhà của ông Lê Thành B và bà Lý Ngọc M trên một phần thửa 418 và một phần thửa 136 như đã nêu trên thì ông B cũng đồng ý phát mãi trong trường hợp ông T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho ngân hàng. Tuy nhiên, do căn nhà đã cất kiên cố cho nên trong trường hợp ngân hàng đề nghị xử lý tài sản đảm bảo đối với thửa đất nêu trên thì dành quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) cho ông B và bà M đối với phần đất ông ông B, bà M đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp ông ông B, bà M có nhu cầu mua là phù hợp với Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014 được ký kết giữa ngân hàng với bị đơn ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó có nêu rõ tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[7] Tuy nhiên, trên phần đất thế chấp thừa 136, tờ bản đồ số 01 có phần nhà mộ chiều ngang 7,5m x chiều dài 8,5m, diện tích 63,75m² không thuộc đối tượng là tài sản thế chấp theo nội dung Hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014. Việc trên đất có mồ mả gắn liền với yếu tố tâm linh, nên sẽ gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong việc xử lý tài sản thế chấp vì sẽ dẫn đến trường hợp không người nào dám nhận chuyển nhượng. Đồng thời, phía nguyên đơn đồng ý không yêu cầu xem xét phát mãi phần nhà mộ nêu trên và đồng ý ổn định cho phía bị đơn lối đi vô mộ có chiều ngang 02m, chiều dài 42m, diện tích 84m² thuộc một phần thửa 136 và một phần thửa 418, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy khi xử lý phần đất thế chấp để thu hồi nợ cần chừa lại diện tích nhà mộ và lối đi vào mộ có diện tích 84m² thuộc một phần thừa 136 và một phần thửa 418, tờ bản đồ số 01 thì mới đảm bảo cho việc thi hành án và đảm bảo quyền lợi của các bên.

[8] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Lê Minh T và và bà Trần Thị T1 phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Lê Minh T.

    Buộc ông Lê Minh T liên đới cùng bà Trần Thị T1 thanh toán cho Ngân hàng N số tiền 327.826.456 đồng (trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 90.229.110 đồng, lãi quá hạn: 37.597.346 đồng). Ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 phải liên đới trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900503 ngày 04/04/2019 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời, ông Lê Thành B, ông Lê Thành D, bà Lê Ngọc C, bà Lý Ngọc M và ông Lê Thành Đ có nghĩa vụ cùng với ông Lê Minh T, bà Trần Thị T1 bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 148, mục đích sử dụng: (T: 300m² +LnK: 900m²), diện tích 1.200m² và thửa đất số 136, mục đích sử dụng: LnK, diện tích 2.768m² đều thuộc tờ bản đồ số 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 188144 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) cấp cho hộ ông Lê Minh T ngày 14/02/1997 và tài sản trên thửa đất gồm: Thửa 418 gồm có 01 căn nhà của ông Lê Minh T, cụ thể: Nhà trước có kết cấu: Mái lợp tôn ximăng, nền lót gạch men, cột đúc, cửa nhôm, đòn tay gỗ dầu, vách tôn thiếc, nhà có chiều ngang 6,3m, chiều dài 9,5m (xây dựng năm 2003); nhà sau có kết cấu: Mái lợp tôn xi măng, nền lót gạch men, vách lá, của thiếc, đòn tay sắt + tầm vong, nhà có chiều ngang 11,5m, chiều dài 8,5m (xây dựng năm 2020); thửa đất số 418 và một phần thửa 136 có 01 căn nhà của ông Lê Thành B và bà Lý Ngọc M, cụ thể: Phần nhà tiền chế và nhà nấu ăn (chung vách), có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, vách (ở giữa chung với nhà nấu ăn) tôn thiếc, vách nhà nấu ăn tôn thiếc, có chiều ngang 9,5m, chiều dài 07m; phần nhà chính có kết cấu: Mái tôn, trần laphong, của nhôm, nền lót gạch men, vách xây tường 10, cột đúc, nhà có chiều ngang 06m, chiều dài 12m + 3m + 11m (xây dựng năm 2013); thửa đất số 136 có chuồng heo của ông Lê Minh T có kết cấu: Mái lợp lá, vách lá + đúc, nền tráng ximăng, có chiều dài 7,5m, chiều ngang 5m (xây dựng năm 2021) và cây trồng gồm có: 29 cây dừa loại A, 11 cây dừa loại B, 07 cây me loại A, 02 cây mít loại A, 01 cây xoài loại A để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014.

    Trong trường hợp Ngân hàng N bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 418 và thửa 136, tờ bản đồ 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thì dành quyền ưu tiên cho ông Lê Thành B và bà Lý Ngọc M được mua (nhận chuyển nhượng) đối với phần đất ông B, bà M đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp ông B, bà M có nhu cầu mua.

    Phần nhà mộ trên thửa đất số 136, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng có chiều ngang 7,5m x chiều dài 8,5m, diện tích 63,75m² và lối đi vào nhà mộ trên thửa đất số 418 và thửa 136, tờ bản đồ số 01 tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng có chiều ngang 02m, chiều dài 42m, diện tích 84m² có vị trí tứ cận: Hướng đông giáp thửa 418 và thửa 136, hướng tây giáp thửa 418 và thửa 136, hướng bắc giáp lộ đal, hướng nam giáp thửa 136 không thuộc phạm vi xử lý tài sản thế chấp.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Lê Minh T, bà Trần Thị T1 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì ngân hàng N phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 01, tọa lạc khóm T, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số LCP201400934/HĐTC ngày 26/02/2014.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    • 4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 liên đới chịu 16.391.323 đồng.
    • - Nguyên đơn ngân hàng N không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.166.164 đồng theo biên lai thu số 0000371 ngày 01 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    • 4.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Lê Minh T và bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 750.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tinh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 196/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger