TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 196/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/9/2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Thống và ông Hoàng Viết Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04/6/2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1979. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số F T, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Q, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Thế H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Nguyễn Thế H) và bà Nguyễn Thị U tự nguyện chung sống với nhau và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại UBND phường T, thành phố B vào ngày 04/10/2001. Sau khi về chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi trong việc dạy bảo, chăm sóc con cái và công việc, kinh tế gia đình. Mâu thuẫn kéo dài, căng thẳng nên chúng tôi đã sống ly thân từ giữa năm 2023 cho đến nay. Nay tôi nhận thấy không còn tình cảm với bà U nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Nguyễn Thị U.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có ba con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Anh T, sinh ngày 13/02/2002, cháu Nguyễn Quỳnh Thanh T1, sinh ngày 28/4/2003 và cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/9/2004. Hiện nay cả ba con chung đã trưởng thành, phát triển bình thường nên việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị U đã được Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cho biết bà U có đăng kí hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại địa phương. Quá trình sinh sống vợ chồng có mâu thuẫn xảy ra nên ông H và bà U đã sống ly thân nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án từ khi Tòa án thụ lý và tại phiên tòa sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng còn bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Nguyễn Thế H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế H được ly hôn với bà Nguyễn Thị U.
Về con chung: Đã trên 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là ly hôn đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2].Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế H và bà Nguyễn Thị U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân có mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, trong việc nuôi dạy con, chăm sóc con cái và công việc, kinh tế gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2023 cho đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông H và bà U đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H, cho ông H được ly hôn với bà U là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa ông H và bà U có 03 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh Anh T, sinh ngày 13/02/2002; cháu Nguyễn Quỳnh Thanh T1, sinh ngày 28/4/2003 và cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 22/9/2004. Hiện nay 03 con chung đã trưởng thành, phát triển bình thường nên việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H xác định giữa ông và bà U không có tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- [3]. Về án phí: Ông Nguyễn Thế H phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 144, Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế H.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế H được ly hôn với bà Nguyễn Thị U.
- Về con chung: Đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Thế H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0010154 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 196/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 196/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế Hoài. 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế Hoài được ly hôn với bà Nguyễn Thị Uyên. 2. Về con chung: Đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
