Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------------

Bản án số: 196/2024/HSST

Ngày: 21/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân,
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải Yến,
Ông Nguyễn Văn Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Tống Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Kiểm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 29/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hữu H - Sinh ngày 3/3/2000 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: 0012000030873. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Hữu L, sinh năm 1977. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979. Vợ: Vũ Thị D, sinh năm 2003, có 01 con sinh năm 2024. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.

Về nhân thân: Ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam P, tỉnh Thái Nguyên. D1, chỉ bản số 502 ngày 13/6/2024 của Công an huyện S. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn B - Sinh ngày 11/4/1999 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn D2, sinh năm 1971. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967. Vợ: Lê Thị B1, sinh 1993, có 01 con sinh 2023. Tiền sự: Không. Tiền án:

  • - Ngày 09/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 17/HSST).
  • - Ngày 27/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 49/HSST). Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của Bản án số 17 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 19 tháng tù.
  • - Ngày 14/6/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 75/HSST). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 49 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 31 tháng tù.
  • - Ngày 31/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 109/HSST). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 75 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 43 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2021, chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 22/11/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 151/HSST), chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 14/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, hành phố H xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 110/HSST), chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 14/12/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 23 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 1073/HSPT). Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 110 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 41 tháng tù, chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 05/12/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số 02 thi hành quyết định tổng hợp bản án: Tổng hợp 41 tháng tù của bản án số 1073 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội và 18 tháng tù của bản án số 151 của Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, buộc B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 59 tháng tù.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam V, tỉnh Vĩnh Phúc (Bắt thi hành án ngày 27/4/2023). D1, chỉ bản số 503 ngày 13/6/2024 của Công an huyện S. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Hữu H1 - Sinh ngày 13/10/1999 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Hữu B2, sinh năm 1972. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1975. Vợ: Hoàng Thị X, sinh năm 2003. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. D1, chỉ bản số 434 ngày 24/5/2024 của Công an huyện S. Có mặt.

- Bị hại: Anh Dương Huy H2, sinh 2000. Trú tại: Thôn I, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào buổi chiều ngày 10/4/2023, Nguyễn Hữu H, sinh 2000, trú tại thôn X, xã X, huyện S, Hà NộiNguyễn Văn B, sinh 1999, trú tại thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Sau đó, H điều khiển xe máy Exciter (không rõ BKS) đến đón B và cùng nhau đi đến khu vực phố T, phường N, quận Đ, Hà Nội. Khi đi đến trước cửa số nhà H phố T thì phát hiện thấy 01 chiếc xe nhãn hiệu SH màu đen BKS 29V3 - 553.29 của anh Dương Huy H2, sinh 2000 (cho anh Dương Trịnh H3, sinh 1997, cùng trú tại thôn I, xã P, huyện P, Hà Nội mượn) để ở vỉa hè trước cửa quán, đầu xe hướng vào trong, đuôi xe quay ra ngoài đường, xe không khóa cổ, không khóa càng nên cả hai rủ nhau trộm cắp chiếc xe trên. H dừng xe lại cạnh chiếc xe SH, còn B xuống xe đi đến dắt xe SH xuống lòng đường. Sau đó, H điều khiển xe máy của B dùng chân phải đẩy xe SH do B điều khiển về cất giấu tại nhà B ở thôn X, xã X rồi H đi về nhà. Sáng ngày 11/4/2024 H gọi điện cho Nguyễn Hữu H1, sinh 1999, trú tại thôn X, xã K, huyện S nói với H1 là có xe SH muốn bán với giá 25.000.000 đồng, bán được sẽ cho H1 2.000.000 đồng, đồng thời H chụp ảnh xe gửi cho H. Thấy xe không có giấy tờ lại bán với giá rẻ nên H1 biết rõ đây là xe do trộm cắp mà có nhưng do H1 được H hứa cho 2.000.000 đồng nên vẫn đồng ý mang xe đi bán hộ H. Ngày 12/4/2023, H1 gọi cho H bảo giao xe cho H1 để mang đi bán. Do lúc này H đang đi chơi nên H bảo B mang xe đến giao cho H1. Sau đó, B mang chiếc xe máy SH trộm cắp được đến dốc chùa B3, xã K, huyện S giao cho H1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H1 đi chiếc xe trên đến quán Internet của anh Nguyễn Hữu Cthôn X, xã K, huyện S thì gặp Nguyễn Quý T2, sinh 2002, cùng trú tại thôn X, xã K. Tại đây, H1 bảo T2 mang chiếc xe máy Honda SH màu đen, BKS 29V3 - 553.29 (T2 nhận thức rõ được đây là xe do trộm cắp mà có khi thấy xe không có giấy tờ, mang BKS Hà Nội nhưng không thuộc địa bàn huyện S, thời điểm đi bán xe lại vào buổi tối) đi bán cho khách ở cổng sân bay quốc tế N và mang tiền về cho H, bán thành công H sẽ trả cho T2 700.000 đồng. Sau đó, T2 rủ Nguyễn Quý T3, sinh 2002, trú tại thôn X, xã K cùng mang chiếc xe trên đi bán. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi T2T3 đang chuẩn bị giao xe cho 02 người nam giới (không rõ tên tuổi địa chỉ) tại cổng nhà ga T2 sân bay quốc tế N, huyện S, Hà Nội thì T3 bị Công an bắt giữ, thu giữ cùng tang vật. Ngày 13/4/2023, anh H2 và anh H3 đã có đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S. Ngày 17/4/2023, T2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đầu thú.

Tại Kết luận định giá tài sản số 114 ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS 29V3 - 553.29 của anh H2 tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 75.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 3181 ngày 23/5/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS 29V3 - 553.29 có số khung, số máy nguyên thủy. Tra cứu xe máy vật chứng tại Phòng K1 - Công an thành phố H xác định chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Vụ việc anh H2 bị trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH xảy ra tại địa bàn quận Đ, Hà Nội. Do vậy, ngày 09/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã có công văn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đề nghị tiếp nhận vụ việc và tang vật liên quan để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 20/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã có công văn phúc đáp xác định Công an quận Đ chưa tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm liên quan đến chiếc xe máy trên, căn cứ khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự và để đảm bảo thuận lợi cho quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S tiếp tục điều tra, giải quyết, xử lý các vụ án, bị can và tang vật nêu trên theo thẩm quyền.

Đối với Nguyễn Quý T2Nguyễn Quý T3, ngày 14/8/2023 đã bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng mua xe SH màu đen BKS: 29V3 - 553.29: Quá trình điều tra H1 khai liên hệ với người này qua tài khoản Facebook, do thời gian đã lâu nên H1 không nhớ thông tin cụ thể. H1 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và chưa gặp người này bao giờ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Exciter (không rõ BKS) H sử dụng chở B đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định là xe của ông Nguyễn Hữu L (bố đẻ H), sinh 1977, trú tại thôn X, xã X, huyện S, Hà Nội. Khi H sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản ông L không biết. Sau đó, ông L đã bán chiếc xe trên cho 01 người không quen biết nên không có cơ sở xử lý.

Về vật chứng: Ngày 08/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã trả lại anh Dương Huy H2 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS: 29V3 - 553.29.

Về dân sự: Anh H2 đã nhận lại chiếc xe bị trộm cắp, anh không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố:

  • Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Nguyễn Hữu H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

  • - Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn B với mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Tổng hợp với 59 tháng tù của Quyết định thi hành quyết định tổng hợp bản án số 22/2023/QĐ-CA ngày 05/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt chung từ 07 năm 11 tháng đến 08 năm 05 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu H với mức án từ 27 đến 30 tháng tù. Tổng hợp với 30 tháng tù của Bản án số 101/2024/HSST ngày 27/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh. Buộc Nguyễn Hữu H phải chấp hành hình phạt chung từ 57 tháng đến 60 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu H1 với mức án từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Áp dụng các Điều 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016.
  • - Về phần bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không còn yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại tài sản nên không phải đặt ra để giải quyết.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2} Về nội dung vụ án :

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, tại trước cửa số nhà H, phố T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hữu HNguyễn Văn B đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH có BKS: 29V3 - 553.29 của anh Dương Huy H2 trị giá 75.000.000 đồng. Đến ngày 12/4/2023, HB giao xe cho Nguyễn Hữu H1 mang đi tiêu thụ để thu lợi bất chính. Sau đó H1 giao xe cho Nguyễn Quý T2T2 rủ Nguyễn Quý T3 mang chiếc xe trên đi tiêu thụ, khi chưa kịp tiêu thụ thì bị công an bắt giữ.

Đối với Nguyễn Văn B đã có nhiều tiền án chưa được xoá, lần phạm tội này của bị cáo B là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Nguyễn Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Nguyễn Hữu H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hữu H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức vì không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn BNguyễn Hữu H có vai trò chính và ngang nhau nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc và cần cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Hữu H1 có vai trò đơn giản, giúp sức cho các bị cáo H, B mang tài sản đi tiêu thụ, chưa được hưởng lợi gì.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện S. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt với mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo Nguyễn Hữu H1 chưa có tiền án, tiền sự.

Về nhân thân:

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn B có quá trình nhân thân xấu:

  • + Ngày 09/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 17/HSST).
  • + Ngày 27/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 49/HSST). Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của Bản án số 17 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 19 tháng tù.
  • + Ngày 14/6/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 75/HSST). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 49 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 31 tháng tù.
  • + Ngày 31/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 109/HSST). Tổng hợp hình phạt của Bản án số 75 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 43 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2021, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 22/11/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 151/HSST), chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 14/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, hành phố H xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 110/HSST), chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 14/12/2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 23 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 1073/HSPT). Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 110 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 41 tháng tù, chưa được xóa án tích.
  • Ngày 05/12/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số 02 thi hành quyết định tổng hợp bản án: Tổng hợp 41 tháng tù của bản án số 1073 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội và 18 tháng tù của bản án số 151 của Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, buộc B phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 59 tháng tù. Bị cáo bị bắt thi hành án ngày 27/4/2023. Lần phạm tội này của bị cáo B là tái phạm nguy hiểm, nhưng không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà tình tiết định khung.

- Đối với Nguyễn Hữu H: Ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng không phải là tái phạm, mà là đang trong thời gian điều tra hành vi phạm tội trước, chưa xét xử thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ:

  • - Đối với bị cáo Nguyễn Hữu H: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; có ông nội là thương binh, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Văn B: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Hữu H1: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

{3} Về phần dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không còn yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại tài sản, nên không phải đặt ra để giải quyết.

{4} Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.

{5} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

  • - Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Hữu H phải chấp hành hình phạt 26 tháng tù của bản án này và 30 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2024/HSST ngày 27/05/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 56 (Năm mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.

  1. Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của bản án này và 59 tháng tù tại Quyết định số: 02/2023/QĐ-CA ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về thi hành quyết định tổng hợp bản án. Buộc Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt chung là 95 (Chín mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2023.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu H1 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao Nguyễn Hữu H1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

+ Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội.
  • - VKSNDTP Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THA huyện Sóc Sơn.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HSST ngày 21/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 196/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: - Các bị cáo Nguyễn Hữu H, Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - Bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” . 1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Hữu H phải chấp hành hình phạt 26 tháng tù của bản án này và 30 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2024/HSST ngày 27/05/2024 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 56 (Năm mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024. 2. Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự: Buộc Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của bản án này và 59 tháng tù tại Quyết định số: 02/2023/QĐ-CA ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về thi hành quyết định tổng hợp bản án. Buộc Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt chung là 95 (Chín mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2023. 3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu H1 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao Nguyễn Hữu H1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. - Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. + Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger