Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HSST

Ngày: 19/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Minh

Bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2024/TLST - HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc T1 (Không có tên gọi khác), sinh ngày 18/01/1973 tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố G, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố B, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; con ông Nguyễn Quốc T2 và bà Vũ Thị C; vợ: Đỗ Thị T3 (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2003.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, xử phạt 01 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 28/3/2019 chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, Nguyễn Quốc T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978 từ nhà đi đến khu vực C thuộc tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ gặp và hỏi mua của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine, được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng, tiếp đến là lớp nilon màu hồng được hàn kín với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T1 cho vào trong khoang miệng, điều khiển xe đi về. Hồi 08 giờ 05 phút cùng ngày, khi T1 điều khiển xe đi trên đường H thuộc tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ thì bị tổ công tác công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: 01 gói được gói ngoài ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng, tiếp đến là lớp nilon màu hồng, bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng đục nghi là Heroine; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus kèm 01 sim; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Quốc T1; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978 kèm chìa khoá và đăng ký xe.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng nghi là Heroine thu giữ của Nguyễn Quốc T1, gửi toàn bộ làm mẫu giám định. Tại Bản kết luận giám định số 919/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng gửi mẫu giám định là 0,35 gam. H lại mẫu sau khi giám định.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp và người được bị cáo ủy quyền nhận hộ 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, kèm 01 sim; 01 thẻ căn cước công dân của T1; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978, kèm chìa khoá và đăng ký xe tại Quyết định xử lý vật chứng số 1416 ngày 21/8/2024.

Cáo trạng số 142/CT-VKSTPĐBP ngày 30/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ để xét xử bị cáo Nguyễn Quốc T1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ trả lại cho chủ sở hữu tài sản là bà Vũ Thị C 01 xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978, kèm chìa khoá và đăng ký xe.

Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

Trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề nghị giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện Kiểm sát; không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận về việc giải quyết vụ án.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cất giấu trái phép 0,35 gam Heroine, mục đích để sử dụng; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong, giao nhận đối tượng giám định; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể:

Hồi 08 giờ 05 phút ngày 01/6/2024, tại khu vực tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Nguyễn Quốc T1 đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,35 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng chất ma túy, đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp, do bản thân sử dụng ma túy nên đã mua và cất giữ trái phép ma túy để sử dụng, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, cũng như chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với loại tội phạm này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm.

[3]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, xử phạt 01 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tại Bản án số 75/2018/HSST ngày 21/8/2018. Ngày 28/3/2019 chấp hành xong toàn bộ Bản án, đã được xóa án tích. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo", quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định; không có tài san riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ trong vụ án: Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng. Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978, bị cáo mượn của bà Vũ Thị C - Là chủ sở hữu hợp pháp, bà C không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma tuý. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã trả lại bà C chiếc xe mô tô, kèm chìa khoá và đăng ký xe đúng theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị C đã nhận lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 27F7 - 9978, kèm chìa khoá và đăng ký xe; bà C không yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 6 năm 2024.

  2. Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc màu vàng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ.
  3. Án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19/9/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND thành phố ĐBP;
  • - CA thành phố ĐBP;
  • - CQ. THAHS;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS TP ĐBP;
  • - Nhà TG;
  • - BP. HSNV;
  • - Cơ quan CSĐTCA thành phố ĐBP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 196/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 08 giờ 05 phút ngày 01/6/2024, tại khu vực tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Nguyễn Quốc T1 đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,35 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng chất ma túy, đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger