Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/06/2024

“V/v: Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan- Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2811/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXX-ST ngày 06/05/2024; Quyết định hoãn phiên Toà số 212/2024/QĐST-DS ngày 27/05/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thanh H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Tổ C, khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trí T, sinh năm: 1995

Địa chỉ: 2, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bà H có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Hoàng Thanh H trình bày: Bà và ông Nguyễn Trí T kết hôn với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu cho đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do quan điểm sống không đồng nhất, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả không tôn trọng nhau. Xét tình cảm không còn nên bà xin ly hôn.

Về con chung: có 01 cháu tên là Nguyễn Hoàng Trí T1, sinh ngày: 13/01/2022. Ly hôn bà xin nuôi con, tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: không có.

Ông T vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các thủ tục theo quy định pháp luật;

Về việc giải quyết vụ án: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thanh H.

Về con chung: có 01 cháu tên là Nguyễn Hoàng Trí T1, sinh ngày: 13/01/2022. Ly hôn đề nghị Hội đồng xét xử giáo cháu cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung+ nợ chung: không đặt ra giải quyết

Về án phí: bà H phải nộp theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng : Bà Hoàng Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Trí T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông T là phù hợp.

[2] Về thẩm quyền xét xử: ông Nguyễn Trí T có cư trú tại địa chỉ tổ B, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điều 28, 35, 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2016 Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

[3] Về quan hệ hôn nhân:Hoàng Thanh H và ông Nguyễn Trí T tự nguyện tìm hiểu, sống chung với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên xác định quan hệ hôn nhân của bà H, ông T là hợp pháp. Nay bà H xin ly hôn, Tòa án căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4] Về yêu cầu xin ly hôn của bà H:H xin ly hôn với ông T với lý do quan điểm sống không đồng nhất, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả không tôn trọng nhau. Xét tình cảm không còn nên bà xin ly hôn.

Về phía ông T vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thì được biết ông T có sinh sống tại địa chỉ 29/32, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng địa phương không biết được mâu thuẫn giữa bà H và ông T nên không thể cung cấp cho Toà. Xét thấy hôn nhân được tạo lập trên cơ sở vợ chồng phải thương yêu quý trọng lẫn nhau, hiện tại bà H thì sống tại nhà bà ở địa chỉ tổ C, khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, còn ông T thì sống cùng gia đình tại địa chỉ 29/32, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời quá trình làm việc, Toà án đã tống đạt rất nhiều lần để ông T lên Toà làm việc, hoà giải nhưng ông vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình, cho dù có hàn gắn cả hai cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Cho bà H được ly hôn với ông T là phù hợp.

[5] Về con chung: có 01 cháu tên là Nguyễn Hoàng Trí T1, sinh ngày: 13/01/2022. Hiện tại cháu đang sống với bà H. Ly hôn bà H có nguyện vọng được nuôi con. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ kiện nên không có ý kiến của ông T về vấn đề chăm sóc giáo dục con chung sau khi ly hôn. Xét thấy cháu T1 hiện còn nhỏ, cháu chưa tới 03 tuổi. Căn cứ khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên giao cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu là phù hợp.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con:H không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét

[7] Về tài sản chung và nợ chung:H khai tài sản chung tự thoả thuận; Nợ chung không có. Do không có lời khai của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận theo ý kiến bà H và không đặt ra giải quyết phần tài sản chung và nợ chung.

[8] Về án phí HNGĐ sơ thẩm:H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[9] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 203, khoản 1 điều 238; 235, 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2016;

- Áp dụng điều 51, 53, 54, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

  1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Hoàng Thanh H. Bà Hoàng Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Trí T.
  2. Về con chung: có 01 cháu tên là Nguyễn Hoàng Trí T1, sinh ngày: 13/01/2022. Ly hôn giao cháu T1 cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền đi lại thăm con không ai cản trở. Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết ông bà được quyền xin thay đổi vị trí nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
  3. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0009843 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đồng Nai (2);
  • -VKSND thành phố Biên Hòa(2);
  • -THA Dân sự thành phốBiên Hòa(1);
  • TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (1);
  • -Cơ quan cấp giấy kết hôn (1)
  • -Đương sự (2)
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mộng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 196/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H xin ly hôn với ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger