Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 196/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 06 - 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành

Ông Trần Mai Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 437/2023/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định hoãn số 70/2024/QĐ- HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988; địa chỉ: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Chu Trường T, sinh năm 1986

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Mỹ. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và anh Chu Trường T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 12 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Hiện tại anh T đang làm việc tại nước Mỹ. Nguyên nhân mâu thuẫn do cả hai không còn tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung.

Đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Chu Trường T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Chu Trường T có 3 con chung là cháu Chu Đức Nhật H sinh ngày 16 tháng 8 năm 2012, cháu Chu Đức L sinh ngày 30 tháng 9 năm 2019, cháu Chu Phúc Ngọc M1 sinh ngày 26 tháng 01 năm 2016. Hiện anh T đang đi lao động ở nước ngoài, chị M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Nay ly hôn, chị M có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Chu Trường T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Chu T1 Thanh vắng mặt. Chị M không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh T đang cư trú tại Mỹ. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Chu Minh T2 cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T cũng như yêu cầu ông T2 thông báo cho anh T biết để anh T có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Tại bản tự khai ngày 11 tháng 04 năm 2024 có nội dung như sau: Ông T2 là bố đẻ của anh Chu Trường T sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Chị M và anh T kết hôn với nhau vào năm 2010 và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh T đang sinh sống và lao động tại Mỹ, anh T vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình thông qua các ứng dụng mạng xã hội. Ông đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên do công việc không ổn định và phải di chuyển nhiều nơi nên không có địa chỉ cụ thể của anh T để cung cấp cho Tòa. Ông đã thông báo về việc chị M khởi kiện ly hôn với anh T cho anh T được biết, anh T cũng đồng ý ly hôn và không có ý kiến gì. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh T về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị M, cho chị M được ly hôn với anh Chu Trường T; giao con chung là là cháu Chu Đức Nhật H sinh ngày 16 tháng 8 năm 2012, cháu Chu Đức L sinh ngày 30 tháng 9 năm 2019, cháu Chu Phúc Ngọc M1 sinh ngày 26 tháng 01 năm 2016 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Chu Trường T có hộ khẩu thường trú tại Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Mỹ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.

[1.2] Anh Chu Trường T hiện đang ở Mỹ, không có địa chỉ cụ thể. ông Chu Minh T2 (là bố đẻ của anh T3) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông T2 cung cấp địa chỉ cụ thể anh T ở Mỹ nhưng ông không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh T trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị M nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Chu Trường T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Chu Trường T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị M và anh T sống với nhau hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hiện anh T đang sinh sống và làm việc tại Mỹ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Từ đó đến nay chị M và anh T không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, chị M và anh T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Chu Trường T.

[2.2] Con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Chu Trường T có 03 con chung là cháu Chu Đức Nhật H sinh ngày 16 tháng 8 năm 2012, cháu Chu Đức L sinh ngày 30 tháng 9 năm 2019, cháu Chu Phúc Ngọc M1 sinh ngày 26 tháng 01 năm 2016. Ly hôn chị M có nguyện vọng được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh T đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý con chung. Do đó, cần giao các con chung cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý. Về cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, anh T chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con cho các đương sự khi có yêu cầu. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Chu Trường T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Bùi Thị M

  1. Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Chu Trường T
  2. Con chung:
    1. Giao con chung là cháu Chu Đức Nhật H sinh ngày 16 tháng 8 năm 2012, cháu Chu Đức L sinh ngày 30 tháng 9 năm 2019, cháu Chu Phúc Ngọc M1 sinh ngày 26 tháng 01 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Chu Trường T có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
    2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị M chưa yêu cầu, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Chu Trường T. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M, anh Chu Trường T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  4. Án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0001405 ngày 12/12/2023.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thòa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

  1. Quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm. Anh Chu Trường T có quyền kháng cáo thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Hưng Phúc, thành phố Vinh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 196/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân sơ thẩm Mai Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger