|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2024/HS-ST Ngày: 16-4-2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Đào Thanh H - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Quốc H1, sinh năm 1999 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: phố C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Quốc T và bà: Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị Trà M và 01 con; Tiền án: ngày 22/7/2020 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phúc thẩm phạt 10 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (chấp hành án xong ngày 07/7/2023); tiền sự: không; nhân thân: năm 2020 bị Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; tạm giữ: 21/10/2023; tạm giam: ngày 30/10/2023 tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”.
- Lê Mạnh C, sinh năm 1994 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc H2 và bà: Nguyễn Thị T1; vợ: Phạm Thị Bích H3 và 02 con; Tiền án, tiền sư: không; tạm giữ: ngày 23/10/2023; tạm giam: ngày 29/10/2023 tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00h30 ngày 21/10/2023, Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T kiểm tra quán Bar J, địa chỉ: tầng C số A L, phường L, thành phố T. Tại bàn A - A2 có 08 đối tượng gồm: Đặng Quốc H1; Thiều Quang Á, sinh năm 2000; Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1986; Nguyễn Thị Vân A1, sinh năm 1991; Văn Huy T2, sinh năm 1999; Nguyễn Thị Q, sinh năm 1996; Đỗ Thị Thùy L1, sinh năm 1988 và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên mặt ghế để trong góc tường cạnh ghế salon nơi các đối tượng trên đang ngồi 02 tờ tiền mệnh giá 1000₫ và 2000đ bị rách, bên trong mỗi tờ tiền này chứa chất bột màu trắng; 01 bật lửa ga; 01 vỏ túi nilong và thu bên trong thùng đựng rác ngay bên cạnh bàn A1-A2 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa các mảnh viên nén màu trắng. Các đối tượng khai báov vừa sử dụng ma túy, riêng Q khai không sử dụng ma túy, các mảnh viên nén trong túi nilong thu trong sọt rác là H1 đực cho Q, Q biết đó là ma túy nhưng không muốn sử dụng nên ném vào sọt rác.
Tiến hành thử test nhanh nước tiểu của Tuấn A, L1, Á, Đ, H1 và Vân Al đều dương tính với chất ma túy loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine; Văn Huy Trường L4. Riêng Q âm tính với ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 3906/KL-KTHS ngày 26/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa các mảnh chất bột màu trắng (dạng viên nén bị vợc) có tổng khối lượng là 0,048g ma túy loại MDMA
- - 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa 01 mảnh tờ tiền mệnh giá 1000₫ và 01 tờ tiền mệnh giá 2000đ, bên trong các mảnh tờ tiền đều chứa chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0/119 gam ma túy loại Ketamine.
Tại bản kết luận giám định số 3943/KL-KTHS ngày 30/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: tìm thấy chất ma túy loại MDMA, ketamine trong mẫu nước tiểu của Á, Tuấn A, Vân A1, H1 và Đ; tìm thấy chất ma túy loại mDMA trong mẫu nước tiểu thu của của Đỗ thị Thùy L2 và chất ma túy loại Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của H1. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Q.
Tại cơ quan điều tra các H1, Đ khai nhận: Chiều ngày 20/10/2023, Nguyễn Tuấn A cùng với vợ là Đỗ Thị Thùy L1, Nguyễn Thị Q, Đặng Quốc H1 và Nguyễn Văn Đ đi từ thành phố Hà Nội về thành phố T. Sau khi ăn uống tại huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cùng với Thiều Quang Á xong biết ngày 20/10 quán JP Club có mời DJ về đánh nhạc nên Tuấn A nói mọi người đến quán J ở A L, phường L, thành phố T uống rượi và nghe nhạc, mọi người đồng ý. Tuấn A gọi cho Lê Mạnh C là quản lý của JP Club đặt bàn, C xếp cho Tuấn A bàn A1- A2. Khi Tuấn A chở Đ, L1, Q và H1 đến quán J, L1 và Q vào quán trước còn Tuấn A chở H1 và Đ quay về nhà bà Đặng Thị Q1 (mẹ vợ Tuấn A) để tặng quà. Trên đường quay lại quán, H1 nói T3 anh cho H1 về qua nhà thay quần áo. Thay xong, H1 lấy 07 viên thuốc lắc và 01 túi ketamine (H1 mua trước đó của một người đàn ông tên B nhưng không rõ nhân thân, lai lịch tại đường N, phường Q, thành phố T với giá 3.000.000 đồng) rồi H1, Tuấn A, Đ quay lại quán BaJ. Trên đường đi H1 đưa cho Đ ½ viên thuốc lắc và đưa cho Tuấn A 01 viên, Đ cất vào trong túi áo. Khi vào bàn A1-A2 tầng 3 quán J thì có Nguyễn Thị Vân A1 (bạn của L1) được L1 gọi đến để uống rượi, nghe nhạc. Đến khoảng 23h, Thiều Quang Á cùng với Văn H4 T2 đến, mọi người cùng nhau uống rượi, nghe nhạc. Lúc này, H1 lấy ma túy ra sử dụng 01 viên thuốc lắc bằng cách uống cùng với nước lọc rồi đưa cho Vân Al và L1 mỗi người một viên và để trên mặt bàn trước mặt Á và T2 02 viên, Á lấy 01 viên sử dụng. Còn lại 1/2 viên H1 đưa cho Q nhưng Q không sử dụng. Nguyễn Văn Đ cũng lấy ½ viên thuốc lắc H1 đưa trước đó ra sử dụng. Sau khi sử dụng thuốc lắc xong, H1 lấy từ trong túi quần ra 01 mảnh tờ tiền 1000 đồng và mảnh tờ tiền 2000 đồng rồi đổ Ketamine lên 02 mảnh tờ tiền này và dùng bật lửa “xào” Ketamine và để trên bàn. Tuấn A đang ngồi nghe nhạc nhìn thấy trên bàn có mảnh tờ tiền 1000 đồng chứa ma túy nên dùng móng tay xúc bột Ketamine sử dụng, H1 cầm mảnh tờ tiền mệnh giá 2000 đồng dùng móng tay xúc Ketamine sử dụng và xúc cho Vân A1 sử dụng. H1 hỏi Q “có chơi không” nhưng Q từ chối. Lúc này, T2 xin sử dụng Ketamine thì H1 đưa cho T2, T2 dùng xong đưa lại cho H1 và H1 để lên bàn, Đ tự xúc Ketamine sử dụng. Trong lúc H1 và mọi người sử dụng Ketamine thì Lê Mạnh C (quản lý quán BaJ) nhìn thấy và biết nhưng do nể Tuấn A nên C để mặc cho Tuấn A, H1 và mọi người sử dụng ma túy. Đến khoảng 0h30 ngày 21/10/2023, thấy Công an vào kiểm tra, H1 cầm 02 mảnh tiền chứa Ketamine và chiếc bật lửa cùng vỏ túi nilong đựng ma túy giấu vào ghế trong góc tường cạnh ghế salon nơi H1 và mọi người đang ngồi và Q ném túi nilong bên trong có chứa các mảnh viên nén màu trắng mà H1 đưa trước đó và thùng rác.
Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám xét nơi ở của H1 nhưng không phát hiện và thu giữ được gì.
Về nguồn gốc số ma túy: trên cơ sở lời khai của H1, Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với Công an phường Q tiến hành xác minh, rà soát camera tại khu vực trên nhưng do đây là khu vực cánh đồng, không có dân cư sinh sống nên không có kết quả. Qua rà soát, không có người đàn ông nào tên B có độ tuổi và đặc điểm như H1 khai báo nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với Nguyễn Tuấn A, Đỗ Thị Thùy L1, Nguyễn Văn Đ, Thiều Quang Á, Văn Huy T4 và Nguyễn Thị Vân A1 là các đối tượng sử dụng ma túy nhưng không được bàn bạc về việc tổ chức sử dụng ma túy, không góp tiền, không chuẩn bị dụng cụ, cũng không rủ rê, lôi kéo người khác để sử dụng trái phép chất ma túy nên không có vai trò đồng phạm trong việc tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý hành chính các đối tượng này về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Công an đã tạm giữ 01 điện thoại Iphone 14 Promax, màu đen, số imei: 35849782643038 gắn sim số 0843636236 của Lê Mạnh C. Cơ quan điều tra đã xác minh, xác đinh chiếc điện thoại trên của chị Phạm Thị Bích H3 (vợ C), C không sử dụng điện thoại trên để phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H3.
Đối với 01 phong bì chứa ma túy được niêm phong; 01 bật lửa, 01 vỏ túi nilong màu trắng, Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Đặng Quốc Hùng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Mạnh C về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Đối với bị cáo H1: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự Đề nghị xử phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.
- - Đối với bị cáo C: điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 00h30 phút ngày 21/10/2023, tại tầng 3 quán J số A L, phường L, thành phố T. Đặng Quốc H1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều đối tượng gồm: Thiều Quang Á, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị Vân A1, Văn Huy T4, Đỗ Thị Thùy L1 và Nguyễn Văn Đ. Lê Mạnh C là quản lý của quán nhìn thấy các đối tượng trên sử dụng chất ma túy nhưng vẫn để mặc cho 07 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ.
Do bị cáo H1 tổ chức ma túy cho nhiều người nên đây là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo C chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người nên đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Do vậy,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo như cáo trạng là có cơ sở, phù hợp với pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Đặng Quốc H1 có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Mạnh C có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.
[3] Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật bị cáo H1 đã mua ma túy cho mình và người khác sử dụng. Bị cáo C biết các đối tượng sử dụng ma túy nhưng vẫn để mặc. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo H1 có nhân thân xấu đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nay lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Bị cáo C tuy có nhân thân tốt nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ và hành vi phạm tội thì việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo.
Do bị cáo H1 đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và đầu thú nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ riêng cho bị cáo C tích cực ủng hộ quỹ người nghèo ở địa phương (có phiếu thu và T5 cảm ơn) theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu giữ được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 bật lửa, 01 vỏ túi nilong màu trắng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 của Quốc Hội quy định về án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo H1).
- - Điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo C)
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 của Quốc Hội quy định về án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quốc H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đặng Quốc H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 21/10/2023
Lê Mạnh C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 23/10/2023.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, 01 bật lửa, 01 vỏ túi nilong màu trắng.
Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 137/THA ngày 03/4 /2024).
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |
Nơi nhận:
|
Bản án số 196/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 196/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma túy
