|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2024/DS – ST Ngày: 14 – 6 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Nam
- Bà Phan Hoàng Mai.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” thụ lý số 145/2024/TLST – DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST – DS ngày 03 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 314/2024/QĐST – DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 (viết tắt V2)
Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn S-Cán bộ xử lý nợ của V2 (theo văn bản ủy quyền số 09/2024/UQ – VPB ngày 26/01/2024).
2. Bị đơn: Ông Lê Vĩnh S1, sinh năm 1997
Địa chỉ: Số G, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Tấn S vắng mặt và có đơn đề nghị được vắng mặt; ông Lê Vĩnh S1 vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 (tên viết tắt V2), các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và bản tự khai đề ngày 14/6/2024, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn S trình bày:
Ngày 26/3/2022, V2 và ông Lê Vĩnh S1 ký kết hợp đồng tín dụng số Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022. Nội dung, V2 cho ông S1 vay số tiền là 1.200.000.000 đồng, mục đích vay thanh toán mua xe ôtô hiệu Mercedes Bens đã qua sử dụng. Thời hạn vay là 84 tháng. Lãi suất vay 9.3%/tháng, lãi này cố định trong 12 tháng. Hết thời hạn này, lãi sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần. Lãi trong hạn bằng 150% của lãi quá hạn, lãi suất chậm trả lãi bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Phương thức trả lãi và vốn vào ngày 15 hàng tháng, bao gồm tiền vốn gốc là 14.286.000 đồng và tiền lãi.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, ông S1 có thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Bens theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 67008698 do Phòng C công an tỉnh A cấp ngày 22/3/2022 mang tên Lê Vĩnh S1, xe mang biển số 67A - 194.44, số khung RLMWF4JX8JV00540, số máy 27492031522313. Việc thế chấp tài sản có ký Hợp đồng thế chấp số LN2203155376681 ngày 26/03/2022 và được đăng ký thế chấp theo Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 26/3/2022.
Sau khi nhận đủ tiền vay, ông S1 thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc được 157.146.000 đồng, trả lãi được 86.027.341 đồng. Đến ngày 15/10/2022, ông S1 ngưng, không thực hiện nghĩa vụ và nợ này chuyển sang nợ quá hạn.
Ngoài ra, V2 còn cấp cho ông S1 thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề ghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán dịch vụ số (03731) ký ngày 12/3/2022. Hạn mức cấp là 20.000.000 đồng, phương thức thanh toán tự động sau 30 ngày kể từ ngày khách hàng có phát sinh dư nợ. Lãi suất thỏa thuận trong hạn là 47,88%/năm, lãi suất quá quá hạn là 71,2%/năm và khách hàng phải chịu các phí khác. Quá trình sử dụng thẻ, ông S1 sử dụng số tiền vốn là 17.839.400 đồng. Đến ngày 19/4/2022, do ông S1 không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn nên chuyển sang tính lãi quá hạn theo thỏa thuận.
Thời gian qua, V2 nhiều lần liên hệ ông S1, nhắc nhở thanh toán nợ, thông báo nợ quá hạn và yêu cầu thu hồi nợ trước hạn nhưng ông S1 không thực hiện, cố tình lẫn tránh. V2 có đến nhà tại địa chỉ số G, khóm B, phường B nhưng không gặp được ông S1, có gặp ông nội của ông S1 là ông Lê Hữu V ở cùng với ông S1 chuyển lời nhưng đến nay, ông S1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, V2 làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc ông Lê Vĩnh S1 có nghĩa vụ thanh toán cho V2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.486.766.683 đồng. Số tiền này xuất phát từ:
- + Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022: vốn còn nợ là 1.042.854.000 đồng, lãi trong hạn 265.352.451 đồng, lãi quá hạn là 132.676.225 đồng;
- + Đơn đề nghị vay vốn có tài san bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 08/3/2022: vốn 17.839.400 đồng, lãi trong hạn 18.696.405 đồng, lãi quá hạn 9.348.202 đồng.
18.696.405 đồng, lãi quá hạn 9.348.202 đồng.
- - Yêu cầu ông Lê Vĩnh S1 tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng như đã nêu trên kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
- - Trường hợp ông Lê Vĩnh S1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, V2 có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số LN2203155376681 ngày 26/03/2022. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes Bens biển số 67A – 194.44, số khung RLMWF4JX8JV00540, số máy 27492031522313 được đăng ký thế chấp theo Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 26/3/2022.
- V2 đã không cấp giấy lưu hành tạm thời cho xe từ tháng mấy 10/2022 đến nay. Tài sản thế chấp này, hiện nay V2 không biết đang ở đâu nên V2 không yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
Bị đơn là ông Lê Vĩnh S1 không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:
Về tố tụng:
Về việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông S1 là phù hợp với Điều 227 của BLTTDS.
Về nội dung:
Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là đủ cơ sở để xác định giữa V2 và ông S1 có xác lập các hợp đồng tín dụng có thời hạn, có lãi, phù hợp quy định pháp luật. Đồng thời, có thế chấp tài sản để bảo đảm nợ vay, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Việc ông S1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS); Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện V2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp giao dịch dân sự, cụ thể là hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Bị đơn có nơi thường trú hợp pháp tại thành phố L. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm
quyền.
[2] Ông Đỗ Thành T là Phó Giám đốc Trung Tâm thu hồi nợ của V2 được người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn ủy quyền theo văn bản ủy quyền số 58/2023/UQ - CTQT ngày 12/7/2023. Ngày 26/01/2024, ông T ủy quyền lại cho ông Nguyễn Tấn S. Xét thấy, việc ủy quyền được thực hiện đúng trình tự, hình thức và nội dung ủy quyền phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Tại Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022, Đơn đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 08/3/2022, ghi nhận địa chỉ của ông S1 là số G, khóm B, phường B, thành phố L. Địa chỉ này là nơi ông S1 đăng ký hộ khẩu thường trú theo kết quả xác minh của Công an phường B cung cấp. Như vậy, đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, ông S1 có địa chỉ cư trú hợp pháp là 75/4, khóm B, phường B, thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt trực tiếp, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của các Điều 177 và 179 của BLTTDS. Các văn bản tố tụng được ông Lê Hữu V là ông nội của ông S1 cùng nơi cư trú nhận và cam kết giao lại cho ông S1. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông S1 vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Như vậy, ông S1 đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của các đương khác để giải quyết vụ án.
Về nội dung:
[5] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, V2 cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản sao Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022 và Đơn đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 08/3/2022, Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 26/3/2022, Hợp đồng thế chấp số LN2203155376681 ngày 26/03/2022, Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, giấy đề nghị giải ngân ngày 26/3/2022, Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 28/3/2022, Phụ lục thông tin về tài sản thế chấp là phương tiện giao thông ngày 28/3/2022, Thông báo số 08/VPB.LCC – MN ngày 16/01/2024 về việc thu hồi nợ trước hạn và khởi kiện khách hàng.
[6] Xét thấy, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa V2 và ông S1 tự nguyện xác lập giao dịch dân sự là hợp đồng vay tài sản có thời hạn và có lãi theo quy định tại Điều 470 của
BLDS 2015. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông S1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ và số tiền còn nợ đã chuyển sang nhóm nợ quá hạn. Việc ông S1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay. Do đó, căn cứ khoản 14, 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 466 của BLDS 2015, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông S1 phải có nghĩa thanh toán cho V2 số tiền tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.486.766.683 đồng. Số tiền này xuất phát từ các hợp đồng như sau:
- + Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022: vốn còn nợ là 1.042.854.000 đồng, lãi trong hạn 265.352.451 đồng, lãi quá hạn là 132.676.225 đồng;
- + Đơn đề nghị vay vốn có tài san bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 08/3/2022: vốn 17.839.400 đồng, lãi trong hạn 18.696.405 đồng, lãi quá hạn 9.348.202 đồng.
[7] Để bảo đảm nợ vay, ông S1 có thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes biển số 67A – 194.44, số khung RLMWF4JX8JV00540, số máy 27492031522313. Việc thế chấp được lập thành văn bản, được chứng nhận tại văn phòng công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm. Từ đó, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cả các chủ thể tham gia theo quy định tại các Điều 319, 320, 321, 322, 323 của BLDS 2015. Do đó, trường hợp ông S1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, V2 có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 299 của BLDS 2015. Đồng thời, khi ông S1 thực hiện nghĩa vụ đầy đủ thì ông S1 được lại tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 302 của BLDS 2015.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP V1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.700.000 (hai mươi sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001732 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 56.603.000 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Các Điều 299, 302, 318, 319, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1.
[1.1] Buộc bị đơn là ông Lê Vĩnh S1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 1.486.766.683 (một tỷ, bốn trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm tám mươi ba) đồng. Số tiền này xuất phát từ:
- + Hợp đồng cho vay số LN2203155376681 ngày 26/3/2022: tiền vốn còn nợ là 1.042.854.000 đồng, lãi trong hạn 265.352.451 đồng, lãi quá hạn là 132.676.225 đồng;
- + Đơn đề nghị vay vốn có tài san bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 08/3/2022: tiền vốn còn nợ 17.839.400 đồng, lãi trong hạn 18.696.405 đồng, lãi quá hạn 9.348.202 đồng.
Kể từ ngày 15/6/2024, ông S1 còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ.
[1.2] Trường hợp, ông S1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp số LN2203155376681 ngày 26/03/2022. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Mercedes biển số 67A – 194.44, số khung RLMWF4JX8JV00540, số máy 27492031522313 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lê Vĩnh S1 số 67008698 do Phòng C công an tỉnh A cấp ngày 22/3/2022.
Trường hợp, đã xử lý các tài sản theo hợp đồng thế chấp trên nhưng không đủ thanh toán hết số tiền còn nợ thì ông S1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP V1.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng TMCP V1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.700.000 (hai mươi sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001732 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Ông Lê Vĩnh S1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 56.603.000 (năm mươi sáu triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn) đồng.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích theo Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 196/2024/DS – ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 196/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
