Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HSST

Ngày: 05/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Thư ký phiên toà: Ông Trần Hồng Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn L, sinh năm 1977 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: nam; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Ngô Văn C (đã chết) và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; vợ bị cáo là Nguyễn Thị S, sinh năm 1990 và có 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: anh Nguyễn Quang V, sinh năm 1991; trú tại: số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1990; trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1963; trú tại: Số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Quang V và chị Nguyễn Thị S quen biết với nhau do làm cùng công ty. Sáng ngày 31/8/2023, anh V nhắn tin với chị S được biết chị S đang sống ly thân với chồng là Ngô Văn L (không có đăng ký kết hôn) và ở phòng trọ một mình tại khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/9/2023, anh V mua đồ ăn mang qua phòng trọ của chị S, sau khi cùng nhau ăn trưa tại phòng trọ của chị S thì anh V và chị S quan hệ tình dục với nhau rồi anh V đi về. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/9/2023, anh V sang phòng trọ của chị S chở đi chơi, đến 22 giờ 30 cùng ngày, anh V chở chị S về lại phòng trọ của chị S thì gặp chồng của chị S là Ngô Văn L đang đứng đợi. L thấy anh V và chị S đi chung và nghi ngờ chị S ngoại tình với anh V nên L nhặt 01 cây gỗ dài khoảng 80cm đánh khoảng 03 cái vào lưng của chị S, rồi L yêu cầu anh V và chị S đi về phòng trọ của L để nói chuyện. Sau đó, anh V điều khiển xe mô tô của mình chở L, còn chị S điều khiển xe mô tô của L chạy theo sau. Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến phòng trọ của L nhà số C, hẻm E đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. L kêu anh V và chị S để xe ở ngoài rồi đi vào phòng. Anh V ngồi sát vách tường ngay cửa ra vào, còn chị S ngồi ngay chân cầu thang lên gác lửng, L ra khép cửa phòng trọ lại nhưng không khóa cửa. L đi xuống bếp lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 40 cm cán bằng nhựa màu đen cầm trên tay phải giơ lên giơ xuống chỉ về phía anh V với chị S hỏi “chúng mày làm như vậy coi được không, chúng mày có quan hệ với nhau chưa?”, anh V trả lời “có 01 lần rồi”, L cầm điện thoại của anh V để đọc tin nhắn giữa chị S với anh V, rồi hỏi anh V “mày biết S đã có chồng chưa”, anh V mới nói là “có biết”, L bực tức đi lại chỗ móc quần áo lấy 01 thắt lưng bằng da đánh vào người chị S 05 đến 06 cái, xong L bỏ dây thắt lưng xuống bàn gỗ trong phòng, L lấy giấy xét nghiệm bệnh lậu của L đưa cho anh V xem và nói “mày quan hệ với vợ tao về lây bệnh lậu cho tao”. L nghĩ anh V là người lây bệnh lậu cho chị S và chị S lây bệnh cho L nên L có ý định kêu anh V bồi thường tiền. Thực hiện ý định đó, L lấy con dao bầu dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu đen giơ lên giơ xuống chỉ vào người anh V hỏi: “mày quan hệ với vợ tao rồi thì mày tính bồi thường như thế nào?”, anh V trả lời: “tùy anh, em cũng không biết”, L nói : “mày có một trăm triệu không, mày cho vợ tao là người tình mày bao nhiêu tiền thì tùy mày”. Anh V nói: “em chỉ có thể xoay được mấy chục triệu thôi, với có chiếc lắc tay bằng vàng”, L hỏi: “vàng thật hay giả", anh V trả lời là “vàng thật". Xong L đưa điện thoại cho anh V nói anh V gọi cho ai lấy lí do gì đó vay tiền. Anh V gọi điện thoại cho mẹ là bà Nguyễn Thị G nói lí do mình bị tông xe vào người ta nên cần tiền bồi thường. Bà G nói có được 36.500.000đ (ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). L kêu anh V để điện thoại xuống bàn. L đưa điện thoại của L cho chị S và lấy số điện thoại của bà G rồi kêu chị S đi gặp bà G lấy tiền mang về. Chị S đi bộ ra ngoài đường ngã 3 Ô bắt xe Grab đến gặp bà G tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình

Dương lấy số tiền 36.500.000đ (ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) rồi quay lại phòng trọ đưa tiền cho anh V. Lúc này, L kêu anh V viết giấy với nội dung là cho chị S tiền, rồi anh Vĩnh t viết “tôi ngoại tình với vợ người ta, tôi đã phá vỡ hạnh phúc gia đình và tôi đã lây căn bệnh xã hội cho người tình, tôi bồi thường cho người tình 36.500.000 đồng”. L thấy anh V viết “bồi thường cho người tình” nên L dùng chân đạp 01 cái trúng vào vùng vai trượt lên đầu phía bên phải của anh V, L kêu anh V ghi lại thành “cho người tình”. Anh V viết xong thì L giữ giấy (L đã làm mất giấy tờ này) và kêu anh V đưa tiền cho chị S cầm rồi L hỏi anh V “mày còn gì lấy ra đưa luôn”, anh V tháo chiếc lắc tay bằng vàng đang đeo đưa cho chị S cẩm. Khoảng 10 phút sau L trả lại điện thoại cho anh V và cho anh V đi về, còn L với chị S ở lại phòng nói chuyện. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 03/9/2023, trong lúc L vào phòng vệ sinh thì chị S cầm hết tiền và vàng đi đâu không rõ, sau đó L bỏ đi lên công trình ở huyện B, tỉnh Long An. Ngày 05/9/2023, anh V đến Công an phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương trình báo vụ việc.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) sợi dây nịt;
  • - 01 (một) con dao bầu dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn;
  • - 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa màu đen;
  • - Số tiền 36.500.000 đồng;
  • - 01 (một) lắc tay bằng vàng.

Ngày 21/9/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Văn L về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Theo kết luận định giá tài sản số 01/KLĐGTS ngày 08/01/2024 của Hộiđồng định giá tài sản thường xuyên thành phố D xác định: lắc tay bằng vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ 49 phân có giá trị là 11.597.270đ (mười một triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm bảy mươi đồng).

Tổng giá trị tài sản Ngô Văn L đã chiếm đoạt của bị hại là 48.097.270₫ (bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm bảy mươi đồng).

Theo bản cáo trạng số 67/CT-VKS-DA ngày 26/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngày 04/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ có đồng phạm và có tội gì khác không.

Ngày 26/4/2024, cơ quan điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương có Công văn số 1144/ĐTTH gửi Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao yêu cầu trích xuất dữ liệu tin nhắn tài khoản zalo, messenger của Ngô Văn L và Nguyễn Thị S trong thời gian từ ngày 01/7/2023 đến ngày 12/9/2023. Tuy nhiên, ngày 09/5/2024, Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có Văn bản số 319/PA05 trả lời không thể tiến hành các biện pháp trích xuất dữ liệu được do thông tin của cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố D đưa ra không đầy đủ.

Tại Văn bản số 175/CV-VKS-DA ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương với nội dung giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngô Văn L mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi dây nịt; 01 (một) con dao bầu dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn; 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 40cm cán bằng nhựa màu đen.

Bị hại Nguyễn Quang V đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên toà bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về chăm sóc mẹ già và con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình

Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/9/2023, Ngô Văn L gặp vợ và Nguyễn Quang V chở nhau về phòng trọ của vợ. Do ghen nên L yêu cầu anh V và chị S cùng đi về phòng trọ của mình ở nhà số C, hẻm E đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau khi L, V và S vào phòng, L lấy con dao bầu dài khoảng 30cm cán bằng nhựa màu đen giơ lên giơ xuống chỉ vào người anh V và yêu cầu bồi thường. L yêu cầu anh V gọi điện cho ai đó để vay tiền đưa cho L. Do sợ hãi anh V gọi điện cho mẹ nói dối bị tông xe vào người ta nên cần tiền bồi thường. Mẹ anh V nói gom được 36.500.000đ. L yêu cầu chị S tới gặp mẹ anh V để lấy tiền, chị S bắt G1 tới gặp bà G lấy 36.500.000đ rồi mang về, L yêu cầu đưa tiền cho V. Lúc này, L kêu anh V viết giấy với nội dung là cho chị S tiền, thấy anh V viết “bồi thường cho người tình” nên L dùng chân đạp 01 cái trúng vào vùng vai trượt lên đầu phía bên phải của anh V, L kêu anh V ghi lại thành “cho người tình”. Anh V viết xong thì L giữ giấy và kêu anh V đưa tiền cho chị S cầm rồi L hỏi anh V “mày còn gì lấy ra đưa luôn”, anh V sợ hãi tháo chiếc lắc tay bằng vàng đang đeo đưa cho chị S. Sau khi anh V đưa tiền và vàng cho chị S thì L cho anh V về.

Tổng giá trị tài sản Ngô Văn L chiếm đoạt của anh V là 48.097.270₫ (bốn mươi tám triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn, hai trăm bảy mươi đồng).

Hành vi của Ngô Văn L dùng dao đe dọa và dùng chân đạp bị hại để chiếm đoạt tài sản đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo thực hiện do cố ý, với mục đích muốn chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với 01 (một) sợi dây nịt; 01 (một) con dao bầu dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn; 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa màu đen cần tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với số tiền 36.500.000 đồng; 01 (một) lắc tay bằng vàng của anh Nguyễn Quang V, chị S1 nộp lại và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho anh Nguyễn Quang V là phù hợp quy định của pháp luật.

[7] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Cướp tài sản".

Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) sợi dây nịt; 01 (một) con dao bầu dài khoảng 30cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn; 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 40cm, cán bằng nhựa màu đen.

(theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 15/3/2024).

3. Về án phí: Bị cáo Ngô Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HSST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 196/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoản 2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger