TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:196/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-6-2024 Về tranh chấp: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Kim Cúc
Ông Ngô Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Trung Q, sinh năm 1957; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà E đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà E đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nộp ngày 06-5-2024, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là ông Phạm Trung Q trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17-12-1991 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và tính cách nên thường xảy ra va chạm, cãi chửi nhau. Ngày 31-3-2024 vợ chồng xảy ra cãi vã lớn, ông đã bỏ đi nơi khác sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó đến nay. Ông xác định vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên xin ly hôn với bà H.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị Nhâm Q1, sinh năm 1992 và Phạm Sinh C, sinh năm 2002. Các con đều đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 13-5-2024 và quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà thống nhất với ông Q về điều kiện kết hôn. Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà là do ông Q tự ý quyết định một số vấn đề về tài sản, cụ thể là ông Q có ý định chia thửa đất là tài sản riêng của ông Q trước khi kết hôn với bà cho anh em và cháu ở quê mà không hỏi ý kiến của bà, thể hiện việc không tôn trọng bà. Bà đã nhiều lần thể hiện quan điểm nhưng không được ông Q chấp nhận. Trong lúc nóng giận thì bà có mắng chửi ông Q, quay video để gửi cho anh em ruột của ông Q. Ông Q đã tự ý bỏ nhà đi sinh sống ở nơi khác, vài ngày mới quay trở về nhà một lần. Tuy nhiên bà không muốn ly hôn mà mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để làm chỗ dựa cho con cháu.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị Nhâm Q1, sinh năm 1992 và Phạm Sinh C, sinh năm 2002. Các con đều đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 17-12-1991 nên hôn nhân giữa ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nên ông Phạm Trung Q đã chuyển ra ngoài sinh sống vài ngày mới về nhà một lần. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay ông Phạm Trung Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, có nguyện vọng ly hôn và có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mẫu thuẫn vợ chồng chứng tỏ ông Phạm Trung Q không có thiện chí đoàn tụ vợ chồng. Bà Nguyễn Thị H không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị Nhâm Q1, sinh năm 1992 và Phạm Sinh C, sinh năm 2002. Các con chung đều đã trưởng thành ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản: Ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là ông Phạm Trung Q phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H.
- Về án phí: Ông Phạm Trung Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Phạm Trung Q đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002098 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
- Quyền kháng cáo: Ông Phạm Trung Q và bà Nguyễn Thị H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
Bản án số 196/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 196/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Q ly hôn bà H
