Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 196/2025/HS-PT

Ngày: 17-12-2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Giang

Ông Trần Thanh Tòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Vi – Kiểm sát viên.

Các ngày 12 và 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Trường K, sinh ngày 17/11/1988, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số F, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ trước khi sáp nhập: Số F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Thợ xăm; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Ánh N; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2008/HS-ST ngày 27/10/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Đồng Tháp) xử phạt Nguyễn Trường K 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/5/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  2. Dương Thanh T, sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp (địa chỉ trước khi sáp nhập: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ1 và bà Lê Thị N1; vợ Trần Thị Thúy A, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Thanh T: Luật sư Cao Phúc T1 – Thành viên Đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).

Ngoài ra, vụ án còn có 01 bị hại và 01 người làm chứng không có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đó, bị hại bà Nguyễn Ánh T2 có nợ tiền của mẹ bị cáo Nguyễn Trường K số tiền 93.000.000 đồng, nợ của bị cáo Dương Thanh T số tiền 300.000.000 đồng và đã bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống.

Quá trình tìm kiếm, bị cáo T phát hiện bà T2 đang sinh sống tại địa chỉ số H, đường Q, phường T, thành phố T, tỉnh Long An (nay là phường K, tỉnh Tây Ninh). Ngày 16/5/2024, các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Trường K hẹn gặp nhau tại thành phố T, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh) để gặp bà T2 đòi nợ. Khoảng 11 giờ cùng ngày, bị cáo K điều khiển xe mô tô, loại Yamaha biển số 59N1-057.32, đi từ huyện T (nay là xã T), tỉnh Đồng Tháp đến thành phố T, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); còn bị cáo T được người bạn tên T3 điều khiển xe mô tô chở đi từ tỉnh Bình Dương đến thành phố T, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, các bị cáo K, T và người tên T3 gặp nhau, cùng uống nước chung tại một quán cà phê cách chỗ ở của bà T2 buôn bán nước khoảng 01 km.

Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, các bị cáo K và T cùng người tên T3 đi đến quán cà phê của bà T2. Vừa đến nơi, bị cáo K thấy bà T2 cùng với ông Nguyễn Thanh H (là bạn bà T2) đang ở trong quán nước. Bị cáo K bước vô quán, đứng sau lưng bà T2 nói “Bữa nay ngưng bán vô giải quyết tiền bạc cho tôi”, bà T2 nghe bị cáo K nói nhưng không trả lời, mà đi vào võng nằm. Các bị cáo T và K đi vào bảo bà T2 trả nợ. Bị cáo T dùng tay tát vào mặt bà T2, người tên T3 đứng ở ngoài dùng chân đá vào cái bàn nhựa làm gãy 01 cái chân bàn. Bị cáo K bảo “bình tĩnh từ từ giải quyết” và đi theo sau bà T2 hỏi “tiền bạc giải quyết sao đây?”, bà T2 trả lời “không có tiền”; bị cáo K yêu cầu bà T2 mở điện thoại ra xem tài khoản Ngân hàng có tiền hay không, nhưng bà T2 không đồng ý; lúc này, có khách hàng đến mua nước uống, bà T2 đi ra trước nhà để bán cho khách; sau đó, bà T2 quay lại ghế ngồi, bị cáo K đi theo phía sau và tiếp tục yêu cầu bà T2 trả tiền. Bà T2 khẳng định không có tiền và không cho bị cáo K kiểm tra tài khoản Ngân hàng trong điện thoại. Bị cáo K bực tức, đi vào trong nhà nhặt lấy một cây kéo bằng kim loại màu đen của bà T2, đang để ở trên bàn, đi đến chỗ bà T2 đang ngồi, dùng tay trái nắm tóc, tay phải cầm kéo cắt tóc của bà T2. Bà T2 đưa tay chụp lấy cây kéo, hai người giằng co, làm cho mũi kéo trúng vào phía bên trái vị trí đỉnh đầu của bà T2 gây chảy máu. Nhìn thấy đầu của bà T2 bị chảy máu, bị cáo K không tiếp tục cắt tóc, mà bảo bà T2 mở ứng dụng tài khoản Ngân hàng trên điện thoại cho bị cáo K xem. Ông H thấy trên đầu bà T2 bị chảy máu, nên đến can ngăn và cầm máu cho bà T2. Lúc này, có khách đến mua nước, bà T2 đi ra ngoài bán và bị cáo K đi theo sau. Khi bán nước uống cho khách, bà T2 lấy tiền trong hộc tủ của xe nước mía ra thối lại cho khách, rồi để tiền vào hộc tủ. Bị cáo K nhìn thấy có tiền trong hộc tủ, nên dùng tay phải cầm lấy 560.000 đồng để lên thùng xốp cạnh tủ tiền và bảo với người tên T3 “lấy tiền đổ xăng đi về”, người tên T3 nhặt lấy số tiền trên và đi ra điều khiển xe đi về. Bị cáo K tiếp tục yêu cầu bà T2 mở máy điện thoại cho bị cáo K kiểm tra tài khoản, bà T2 vẫn trả lời là hết tiền và bỏ đi vào trong nhà ngồi trên võng. Bị cáo K tiếp tục đi theo, dùng kéo cắt tóc bà T2, làm đứt một chùm tóc rơi xuống đất. Sau đó, bị cáo K đi ra ngoài trước quán nằm võng.

Bị cáo T đi vào trong nhà và tiếp tục đòi tiền bà T2. Bị cáo T dùng tay đánh vào mặt bà T2 một cái và cầm ghế nhựa ném vào người bà T2. Sau đó, bị cáo T tay cầm bàn ủi cắm điện, đe dọa bà T2, nếu không trả tiền cho bị cáo, bị cáo T sẽ ủi vào mặt. Bà T2 nói “Đợi chút, kêu người nhà lấy tiền”. Sau đó, bà T2 vào nhà vệ sinh gọi điện thoại trình báo Công an.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, lực lượng Công an phường T, thành phố T, tỉnh Long An (nay là Công an phường K, tỉnh Tây Ninh) đến nơi xảy ra vụ việc và mời các bị cáo K, T đến cơ quan Công an để làm việc.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 03 lọn tóc, 01 cái bàn nhựa bị vỡ, 01 một cái bàn ủi, 01 cây kéo kim loại màu đen dài 28cm, 01 xe mô tô biển số 59N1 - 057.32, 01 điện thoại di động Redmi vỡ màn hình và 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu xám đen.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 186/KLTTCT-TTPY ngày 01/7/2024 của Trung tâm P (nay là Trung tâm P – Sở Y) kết luận: Các kết quả chính: Vùng đỉnh đầu có 02 sẹo vết thương có kích thước từ nhỏ đến trung bình. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Ánh T2 tại thời điểm giám định là: 03%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Vùng đỉnh có 02 sẹo vết thương: 01 sẹo vết thương có kích thước nhỏ tỷ lệ: 01% và 01 sẹo vết thương có kích thước trung bình tỷ lệ: 02%. Không đủ cơ sở để trả lời cơ chế hình thành vết thương.

Tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKSTA-HS ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh) đã truy tố các bị cáo Dương Thanh T và Nguyễn Trường K về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Tây Ninh, đã xét xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2024.

2.2. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 7 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về: Thời hạn tạm giam, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 25/8/2025 các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Trường K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận về thời điểm bị cáo lấy số tiền 560.000 đồng của bà T2 khác so với nội dung của án sơ thẩm nêu như sau: Việc bị cáo K nhặt lấy số tiền 560.000 đồng trong học tủ, bà T2 nhìn thấy và gật đầu đồng ý cho bị cáo K lấy tiền. Số tiền này được bị cáo K lấy trước thời điểm bà T2 bị bị cáo K dùng kéo dọa cắt tóc bà T2 và gây chảy máu trên đầu của bà T2. Tuy nhiên, khi làm việc với cơ quan Công an, bị cáo được hướng dẫn khai lại là lấy số tiền 560.000 đồng sau thời điểm bà T2 bị bị cáo K dùng kéo dọa cắt tóc bà T2 và gây chảy máu trên đầu của bà T2 nhằm chỉ bị xử phạt hành chính, không bị xử lý hình sự. Ngoài lời khai tại phiên tòa, bị cáo K không có tài liệu hay chứng cứ gì khác chứng minh. Bị cáo xác định, các lời khai có trong Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung đều do bị cáo viết ra, ký tên xác nhận lời khai, không bị ai ép cung hay nhục hình buộc phải khai nhận.

Bị cáo Dương Thanh T thay đổi yêu cầu kháng cáo từ kêu oan thành kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xác định án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cướp tài sản” là không oan.

Phần tranh luận:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với từng bị cáo là tương xứng. Bị cáo K kháng cáo kêu oan không có căn cứ để xem xét chấp nhận kháng cáo; bị cáo T thay đổi kháng cáo từ kêu oan thành kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có cung cấp thêm tình tiết về hoàn cảnh gia đình vợ bị mắc bệnh cường giáp điều trị dài hạn, đây là tình tiết mới, nên có căn cứ để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 03 tháng tù. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Thanh T trình bày:

Án sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá đầy đủ về các tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; cũng như các tình tiết giảm nhẹ khác như:

  • Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, xuất phát từ hành vi sai phạm của bị hại vay tiền của bị cáo 300.000.000 đồng mà không trả, né tránh; khi gặp, bị hại không có thiện chí trả, mà có thái độ thách thức bị cáo, dẫn đến bị cáo có hành vi trái pháp luật. Trước đó, bị cáo đã nộp Đơn khởi kiện bị hại tại Tòa án, nhưng bị hại không có nơi cư trú rõ ràng, nên không thụ lý Đơn khởi kiện của bị cáo; nộp đơn tố cáo hành vi của bị hại tại Cơ quan điều tra, được trả lời không có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền chiếm đoạt 560.000 đồng, nhưng bị hại từ chối nhận. Tại phiên tòa hôm nay, gia đình bị cáo có nguyện vọng được nộp số tiền trên để bồi thường cho bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận (Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao). Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo có vợ là bà Trần Thị Thúy A đang mắc bệnh cường giáp, đã điều trị từ trước cho đến nay chưa có dấu hiệu thuyên giảm theo Hồ sơ bệnh án (cung cấp tại phiên tòa cho Hội đồng xét xử xem xét). Đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Vai trò của bị cáo trong vụ án là đồng phạm giúp sức, với vai trò không đáng kể.

Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s và g khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo. Bị cáo T thống nhất với bào chữa của Luật sư, không bổ sung thêm.

Bị cáo Nguyễn Trường K trình bày:

Bị cáo không có dùng vũ lực ngay tức khắc đối với bị hại để lấy số tiền 560.000 đồng, mà do Điều tra viên hướng dẫn bị cáo khai lại thời điểm lấy tiền của bị hại, nên hành vi của bị cáo không phạm tội “Cướp tài sản”.

Đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Đối với các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b và g khoản 1 Điều 51 và xem xét áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự như Luật sư đề nghị xem xét áp dụng cho bị cáo T là không có căn cứ để chấp nhận. Bị cáo K cho rằng Điều tra viên hướng dẫn bị cáo khai là không có căn cứ.

Lời nói sau cùng: Bị cáo T biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo K mong Hội đồng xét xử xem xét lại hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T có Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dương Thanh T thay đổi nội dung kháng cáo, từ kháng cáo kêu oan thành kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được ghi nhận để xem xét.

[2] Về nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo:

Xuất phát từ việc bị hại Nguyễn Ánh T2 nợ tiền của mẹ bị cáo K với số tiền 93.000.000 đồng và nợ tiền của bị cáo T với số tiền 300.000.000 đồng, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà còn lẫn tránh. Sau thời gian tìm kiếm, biết được nơi sinh sống của bà T2, các bị cáo K và T hẹn gặp nhau để cùng đi đến nơi bà T2 sinh sống để đòi nợ.

Trong khoảng thời gian từ khoảng 17 giờ 15 phút đến 20 giờ cùng ngày 16/5/2025, tại nơi sinh sống của bà T2 thuộc số H, đường Q, phường K, tỉnh Tây Ninh. Các bị cáo K và T đã nhiều lần dùng vũ lực đối với bà T2 như: Bị cáo T nhiều lần dùng tay đánh vào vùng mặt của bà T2, dùng ghế nhựa ném vào người bà T2, dùng bàn ủi cấm vào nguồn điện dọa ủi vào mặt bà T2 để yêu cầu bà T2 trả nợ, cho kiểm tra tài khoản Ngân hàng trên điện thoại để buộc trả nợ; còn bị cáo K dùng kéo 02 lần cắt tóc của bà T2 dẫn đến chảy máu với tỷ lệ tổn thương 03% để nhằm yêu cầu bà T2 cho kiểm tra tài khoản Ngân hàng trên điện thoại, để nhằm buộc trả nợ cho mẹ bị cáo; còn người tên T3 đi cùng dùng chân đá vào bàn nhựa của bà T2 gây hư hỏng. Hành vi của các bị cáo diễn ra cùng một địa điểm, đan xen với nhau trong một khoảng thời gian là đồng phạm với nhau, cùng nhằm mục đích gây sức ép về mặt tinh thần để buộc bà T2 trả nợ trái ý muốn và bị cáo K là người trực tiếp chiếm đoạt của bà T2 số tiền 560.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K cho rằng, khi lấy số tiền trên được sự đồng ý của bà T2 và thời điểm này bà T2 chưa bị bị cáo dùng kéo cắt tóc dẫn đến bị thương tích. Lời khai này của bị cáo lại mâu thuẫn với các lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và không có chứng cứ gì để chứng minh, nên không có căn cứ để chấp nhận. Do đó, với các hành vi như trên các bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, xét thấy: Mức hình phạt và loại hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với từng bị cáo là tương xứng. Bị cáo K kháng cáo kêu oan là không có căn cứ để chấp nhận. Bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp thêm tình tiết vợ bị mắc bệnh cường giáp phải điều trị dài hạn, đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nên cấp phúc thẩm ghi nhận để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo T không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác như Luật sư đề nghị là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Từ những căn cứ và nhận định trên: Xét kháng cáo của bị cáo K không có căn cứ chấp nhận, kháng cáo của bị cáo T có căn cứ chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ để chấp nhận; quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo K phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo T không phải chịu án phí, do kháng cáo được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021 và năm 2025;

    Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K. Giữ nguyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh.

  2. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2021 và năm 2025;

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thanh T. Sửa một phần về hình phạt đối với bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh.

  3. Về tội danh:

    Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T phạm tội “Cướp tài sản”.

  4. Về hình phạt:
    1. 4.1. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2024.

    2. 4.2. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 7 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2024.

    Căn cứ: Khoản 3 Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và năm 2025. Tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo Nguyễn Trường K và Dương Thanh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 17/12/2025 để đảm bảo việc thi hành án.

  5. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Căn cứ các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo Nguyễn Trường K nộp 200.000 đồng án phí sung vào ngân sách Nhà nước.

    Bị cáo Dương Thanh T không phải chịu án phí.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
  • - TAND Khu vực 1 (02);
  • - VKSND Khu vực 1 (01);
  • - THADS tỉnh Tây Ninh (01);
  • - Công an tỉnh Tây Ninh (02);
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thiện Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2025/HS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 196/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tú
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger