|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 196/2025/HS-PT Ngày: 13/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Thu Hường |
| Các Thẩm phán: | Ông Trương Thành Trung |
| Bà Nguyễn Thị Trâm Anh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Việt A, Vũ Nam G do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 394/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
- Trần Việt A, sinh ngày 24/11/2004; Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn B và bà Nguyễn Thị M. Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 22/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Vũ Nam G, sinh ngày 13/8/2003; Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện K, Hà Nam; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố, con bà Vũ Thị Y. Vợ, con: chưa có; Tiền án; tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 22/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Việt A và Vũ Nam G là sinh viên trường cao đẳng N1, do cần tiền tiêu xài nên A đã bàn với G sẽ đi cướp gậy đánh bi-a rồi mang bán trên mạng.
Khoảng 0h30 ngày 17/8/2024, G điều khiển xe máy Winner X màu đen, BKS: 90B7-017.71 (đã tháo biển) của mình đến đón A ở phố M, quận H rồi cùng đi đến khu vực hầm chui T gặp N (chưa xác định được nhân thân) mượn 01 thanh kiếm dài khoảng 60 cm để làm vũ khí đi cướp tài sản. Cả 2 sau đó đèo nhau đi qua các cung đường từ Khuất Duy T - Hồ T - đường 70 đến Trịnh Văn B1 nhưng không tìm được ai để cướp nên A bàn với G là sẽ cướp điện thoại của người đi đường. Đến khoảng 3h50 ngày 17/8/2024, A và G đang dừng nghỉ trên vỉa hè đường T, phường X, quận N, thành phố Hà Nội thì nhìn thấy anh Nguyễn Văn N đi xe máy chở chị Nguyễn Thị Thảo L đi ngang qua nên cả hai lên xe đuổi theo chặn đầu xe của anh N lại. A xuống xe, rút kiếm chỉ vào anh N và chị L, nói “ĐMM, điện thoại đâu, đưa điện thoại đây”. Anh N và chị L do sợ hãi nên anh N đã đưa chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen 64GB và chị L đưa chiếc điện thoại Iphone 13 màu trắng 128GB của mình cho A. Sau đó A yêu cầu anh N và chị L đọc mật khẩu để mở khóa màn hình rồi lên xe của G tẩu thoát. Sau khi cướp được tài sản, A và G đi đến đường L trả kiếm cho đối tượng “N” rồi cả hai đi về số 67 đường L chơi bi-a. Tại đây, A kiểm tra điện thoại thấy thông tin đăng nhập tài khoản ngân hàng của anh N và chị L trong phần ảnh nên đã truy cập vào tài khoản ngân hàng của anh N thấy có 15.000 đồng và tài khoản của chị L có số tiền 1.300.000 đồng nên đã chuyển khoản chi tiêu hết số tiền 15.000 đồng của anh N và 1.300.000 đồng của chị L. Sau đó, A và G đã đem bán chiếc điện thoại Iphone 13 màu trắng 128GB chiếm đoạt được của chị L cho anh Đặng Đình S được 10.000.000 đồng và đem bán chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen 64GB chiếm đoạt được của anh N cho chị Nguyễn Thị Thanh X được 4.200.000 đồng. Tổng số tiền bán 2 điện thoại được 14.200.000 đồng. Do A đang cần tiền và G còn nợ tiền nên A cầm 13.000.000 và chía cho G 1.000.000 đồng và cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 17/08/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị Thảo L đến Công an phường X, quận N trình báo vụ việc.
Ngày 22/8/2024, trên cơ sở kết quả điều tra xác minh, Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt người bị giữ trong thường hợp khẩn cấp đối với Trần Việt A và Vũ Nam G. Tiến hành dẫn giải, Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc Iphone 13 màu trắng 128GB (do anh Đặng Đình S giao nộp), chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen 64GB (do chị Nguyễn Thị Thanh X giao nộp).
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động Apple Iphone 13 màu trắng 128GB (thu giữ của anh Đặng Đình S); 01 chiếc điện thoại di động Apple Iphone 11 màu đen 64GB (thu giữ của chị Nguyễn Thị Thanh X); 01 áo khoác gió dài tay màu vàng xanh có chữ “Be”; 01 áo thun ngắn tay màu trắng họa tiết trên nền đỏ”SAINT”; 01 áo thun ngắn tay màu xanh có họa tiết và dòng chữ “Louis Vuitton” và 01 xe máy Honda Winner màu đen không gắn BKS, SK: RLHKC4419NY057221; SM: KC34E5067729.
Tại bản kết luận định giá số 188/KLĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận N, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Apple Iphone 13 màu trắng 128GB trị giá 8.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Apple Iphone 11 màu đen 64GB trị giá 4.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Việt A và Vũ Nam G khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra xác định 01 xe máy Honda Winner màu đen không gắn BKS (SK: RLHKC4419NY057221; SM: KC34E5067729) là tài sản của Vũ Nam G mua và đăng ký năm 2022, xe có biển kiểm soát 90B7-017.71.
Đối với chị Nguyễn Thị Thanh X và anh Đặng Đình S. Quá trình điều tra xác định khi mua điện thoại của A, cả hai không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có đề cập xem xét, xử lý.
Đối với đối tượng Nam A1, do A và G khai không biết nhân thân, lai lịch của Nam A1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.
Ngày 16/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả chiếc điện thoại di động Apple Iphone 13 màu trắng 128GB cho chị L và trao trả chiếc điện thoại di động Apple Iphone 11 màu đen 64GB cho anh N.
Quá trình điều tra, gia đình Trần Việt A đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thảo L số tiền 1.300.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Văn N số tiền 15.000 đồng đã bị A chiếm đoạt từ tài khoản. Chị L, anh N không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Gia đình A và G cũng đã tự nguyện khắc phục trả số tiền 10.000.000 đồng và 4.200.000 đồng cho anh Đặng Đình S và chị Nguyễn Thị Thanh X, anh S và chị X không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Lời khai nhận tội của Vũ Nam G, Trần Việt A phù hợp với lời khai của bị hại và lời khai người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số 365/CT-VKSNTL ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Trần Việt A và Vũ Nam G về tội: Cướp tài sản theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Bản án sơ thẩm số 394/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã quyết định
Tuyên bố: Bị cáo Trần Việt A và bị cáo Vũ Nam G phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng: Điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Việt A 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Nam G 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/01/2025 bị cáo Trần Việt A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 06/01/2025 bị cáo Vũ Nam G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Gia đình các bị cáo nộp 02 đơn xác nhận của công an xã H xác nhận bị cáo G phát hiện Lường Văn T1 có cầm trong tay 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có ma túy và xác nhận bị cáo A phát hiện 08 đối tượng đánh bạc ăn tiền, đã báo cho cơ quan có thẩm quyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Cướp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Theo lời khai của bị hại tại cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 03 giờ 50 phút, ngày 17/8/2024, tại khu vực đoạn đường mới làm nối đường P với Trịnh Văn B1, phường X, quận N, thành phố Hà Nội, Trần Việt A và Vũ Nam G đã có hành vi dùng kiếm đe dọa và cướp chiếc điện thoại Iphone 11 trị giá 4.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn N và cướp chiếc điện thoại Iphone 13 trị giá 8.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thảo L và chiếm đoạt số tiền 15.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của anh N và 1.300.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của chị L. Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 13.815.000 đồng.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Việt A và bị cáo Vũ Nam G về tội “Cướp tài sản” điểm d, khoản 2, Điều 168 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo Trần Việt A và bị cáo Vũ Nam G, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Trước khi mở phiên tòa, gia đình các bị cáo nộp đơn xác nhận về việc phát hiện tội phạm của các bị cáo trước khi các bị cáo phạm tội nên đây là tình tiết mới, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS nên cần sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo.
Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Việt A và bị cáo Vũ Nam G, sửa bản án sơ thẩm số 394/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- [2]. Căn cứ: Điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Việt A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cướp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Nam G 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cướp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
- [3]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Việt A và bị cáo Vũ Nam G không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- [4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hường |
Bản án số 196/2025/HS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cướp tài sản)
- Số bản án: 196/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự - Trần Việt An, Vũ Nam Giang
