|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2024/HS-ST Ngày 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà – Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Nguyễn Thị Thiệp – Chủ tịch Hội phụ nữ xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 187/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Việt A, sinh ngày 28/10/2006;
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn C, sinh năm 1979 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1980; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út; vợ, con: chưa có;
- Tiền án: Tại Bản án số 215/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Việt A 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng.
-Tiền sự: Không;
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Việt A: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Việt A: Bà Phan Thị Thu H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
1
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 2003;
Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị K, sinh năm 2003, con: 01 con sinh năm 2023;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118 ngày 25/01/2022 của Công an huyện Y xử phạt Hiến 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
3. Họ và tên: Trần Bình T, sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Bình T1, sinh năm 1975 và Bùi Thị H2, sinh năm 1979; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
4. Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh năm 2005;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1981 và Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
5. Họ và tên: Trần Văn T2, sinh năm 2001;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T3, sinh năm 1979 và Nguyễn Thị T4, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 2003; con: có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
6. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1975 và Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/5/2024 đến ngày 23/5/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
2
7. Họ và tên: Hoàng Văn C1, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1976 và Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
8. Họ và tên: Nguyễn Duy T6, sinh năm 2001;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành V1, sinh năm 1977 và Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
9. Họ và tên: Nguyễn Văn H4, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung K1, sinh năm 1976 và Nguyễn Thị T7, sinh năm 1978; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đỗ Thị H5, sinh năm 2003, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2024 đến ngày 14/6/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
*Bị hại:
- Anh Ngô Việt A, sinh ngày 28/10/2006 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Tiến M, sinh ngày 05/11/2008 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện hợp pháp cho anh M: Bà Nguyễn Hà T8, sinh năm 1987 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thành V1, sinh năm 1977 (có mặt).
Ông Trần Văn T3, sinh năm 1979 (có mặt).
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (có mặt).
Bà Bùi Thị H2, sinh năm 1979 (có mặt).
Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1980 (có mặt).
3
Đều trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 20 giờ ngày 13/5/2024, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H1, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Anh N2 đang ngồi chơi tại bờ ao đình thôn Đ thì có một nhóm thanh niên đi trên 03 xe mô tô cầm theo gậy dài đi qua chỗ nhóm của Pháp, nhóm thanh niên này chửi nhóm của Pháp. Thấy vậy, P về nhà lấy 01 thanh kiếm dài khoảng 50 cm, chuôi bằng gỗ màu đỏ, bản rộng khoảng 5 cm mang ra để ở ghế đá khu vực bờ ao đình rồi tiếp tục ngồi chơi. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6 đến chơi cùng nhóm của Pháp, nhóm của P nói chuyện cho T2, C1, T6 về việc có một nhóm thanh niên phóng xe qua ao đình chửi bới và cầm theo hung khí. Sau khi nghe chuyện, T2 về nhà lấy 01 thanh kiếm màu trắng, dài 66,5 cm, chuôi bằng gỗ màu cánh dán, bản rộng 4,4 cm mang ra để ở ghế đá khu vực ao đình mục đích để đuổi đánh nhóm thanh niên chửi nhóm của Pháp nếu nhóm thanh niên này quay lại. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, khi nhóm T2 gồm có: T2, C1, T6, Pháp, H1, T, Đ, H4, N2, anh C2, anh T10 và anh Xuân A2 đang ngồi ở bờ ao đình thôn Đ, xã T thì Ngô Việt A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát (BKS) 99D1-444.79 đi qua thì giữa nhóm của T2 và Việt A xảy ra xích mích chửi nhau. Lúc này, T2 hô hào mọi người đuổi theo để đánh Việt A. T2 điều khiển xe máy Honda SH màu đen BKS 99D1-510.04 chở H1 ngồi sau, H1 cầm hai thanh kiếm (gồm 01 thanh ở ghế đá và 01 thanh kiếm ở yên xe mô tô để ở khu vực đình Đ). T6 điều khiển xe mô tô Honda SH màu đen BKS 99D1-415.06 chở C1, N2 và H4, C1 cầm một thanh kiếm, H4 cầm một chiếc chổi cán bằng tre còn N2 không cầm gì. Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS 99D1-483.40 chở T và Pháp. Thấy nhóm của T2 đuổi theo Việt A, anh C2 điều khiển xe mô tô Honda Vision chở anh T10 và anh Xuân A2 đuổi theo nhóm của T2 để can ngăn. Trên đường đi, Đ dừng xe lại để T, Pháp xuống xe và mỗi người nhặt một viên gạch rồi tiếp tục lên xe do Đ điều khiển để đuổi đánh V. Bị nhóm T2 đuổi đánh, Việt A bỏ chạy. Khi Việt A đi đến quán trà sữa “Toco” ở thôn Đ thì Việt A dừng xe lại và xuống xe. Việt A rút từ trong người ra một gậy rút bằng kim loại và đứng ở cửa quán. Lúc này, nhóm T2 đuổi đến trước cửa quán "" thì Việt A cầm gậy rút giơ lên vụt đánh nhóm của T2 nhưng không trúng ai. Thấy nhóm của T2 đông người nên Việt A bỏ chạy vào bên trong quán “Toco”. Lúc này, bên trong quán có anh Nguyễn Đức A1, anh Nguyễn Đức N3, anh Vũ Ngọc B, anh Nguyễn Tiến M cùng trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y đang ngồi uống nước. Nhóm của T2 đuổi theo Việt A, H1 cầm hai thanh kiếm đuổi theo Việt A. Khi đuổi kịp Việt A, H1 dùng tay phải giơ thanh kiếm cao qua đầu, chém một nhát từ trên xuống dưới, chếch từ trái sang phải trúng phần lưng của Việt A, bị chém Việt A bỏ chạy tiếp vào phía trong quán. Khi thấy nhóm T2 lao vào chém Việt A thì các anh A1, N3, B và anh M sợ hãi bỏ chạy ra sau quán. Lúc này, H1 đuổi theo anh M rồi cầm 01 thanh kiếm
4
bằng tay phải giơ cao ngang tai phải, chém một nhát từ trên xuống dưới, chếch từ trái sang phải trúng phần lưng của anh M. Anh M sợ hãi chạy vào bên trong quầy của quán và chui xuống gầm bàn quầy thu ngân. T2 giằng được một thanh kiếm từ tay của H1 rồi giơ kiếm lên để chém anh M thì được anh T10 và anh C2 can ngăn, còn C1 cầm kiếm lao vào chém anh M thì được mọi người can ngăn. Lúc này T và P cầm gạch đứng ở cửa quán, H4 cầm chổi đuổi vào trong quán để đánh nhau nhưng thấy nhóm người ở thôn Đ đã bỏ chạy nên vứt chổi và đứng ở cửa quán. Sau đó, nhóm T2 lên xe quay về đình thôn Đ. Trên đường đi về T2 đưa thanh kiếm cho P cầm. Khi cả nhóm về đến ao đình thì P, H1, C1 để kiếm ở ghế đá cạnh ao đình còn T2 cầm 01 thanh kiếm của T2 về nhà cất giấu. Cả nhóm ngồi chơi nói chuyện một lúc rồi đi về nhà.
Việt A và anh M đã được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị vết thương từ ngày 14/5/2024 đến ngày 17/5/2024 thì ra viện.
Ngày 14/5/2024, Ủy ban nhân dân xã T và Công an xã T gửi văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y xử lý đối với nhóm đối tượng đánh nhau gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 73 ngày 26/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh M tại thời điểm giám định là 3%, cơ chế hình thành vết thương do tác động ngoại lực trực tiếp của vật sắc. T9 kiếm có đặc điểm nêu trên có khả năng gây ra các thương tích trên cơ thể của anh M.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 72 ngày 03/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Việt A tại thời điểm giám định là 7%, cơ chế hình thành vết thương do tác động ngoại lực trực tiếp của vật sắc. T9 kiếm có đặc điểm nêu trên nhiều khả năng gây ra các thương tích trên cơ thể của Việt A.
Tại bản Cáo trạng số: 194/CT-VKSYP, ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Ngô Việt A, Trần Bình T, Nguyễn Văn P, Hoàng Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Trần Văn T2, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn H4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Văn H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, c, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại là anh Nguyễn Tiến M, đại diện hợp pháp cho anh M là bà Nguyễn Hà T8 yêu cầu bị cáo H1 phải bồi thường tiếp số tiền là 40.000.000 đồng.
Bị hại là Ngô Việt A không yêu cầu H1 phải bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành V1 trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Duy T6. T6 đã nhờ ông đã bồi thường cho Việt
5
A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Ông không yêu cầu T6 phải trả lại cho ông số tiền ông đã bồi thường cho Việt A, M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn T3 trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Trần Văn T2. T2 đã nhờ ông đã bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Ông không yêu cầu T2 phải trả lại cho ông số tiền ông đã bồi thường cho Việt A, M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn P. Hiến, Pháp đã nhờ bà đã bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Bà không yêu cầu H1 và P phải trả lại cho bà số tiền bà đã bồi thường cho Việt A, M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo Hoàng Văn C1. C1 đã nhờ bà đã bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Bà không yêu cầu C1 phải trả lại cho bà số tiền bà đã bồi thường cho Việt A, M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị H2 trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo Trần Bình T. T đã nhờ bà đã bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 5.000.000 đồng. Bà không yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền bà đã bồi thường cho Việt A, M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh căn cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn P, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4, Trần Bình T và Ngô Việt A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 từ 28 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 56 đến 60 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 từ 26 đến 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 52 đến 56 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Bình T từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 46 đến 52 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 25 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 50 đến 54 tháng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T6 từ 25 đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 50 đến 54 tháng.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
6
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn Đ từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 52 tháng.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 56, Điều 58, Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Ngô Việt A từ 26 đến 28 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 215/2023/HSST, ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 44 đến 46 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
+ Áp dụng điểm a, c, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 26 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/5/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M1 do bà Nguyễn Hà T8 là đại diện số tiền từ 22.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng. Được trừ số tiền 11.000.000 đồng bị cáo H1 đã tác động gia đình bồi thường cho anh M1.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kiếm dài 66,5cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, kiếm 01 lưỡi, đầu kiếm nhọn; 01 vỏ bao kiếm bằng vải màu đen
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD trích xuất camera an ninh, 09 đĩa ghi âm hỏi cung của các bị cáo.
- Phát biểu bào chữa cho bị cáo Việt A, bà Phan Thị Thu H trình bày: Bị cáo Việt A phạm tội có lỗi một phần của bị cáo H1 đánh bị cáo Việt A. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, giúp bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc
7
khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dụng:
Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 22 giờ ngày 13/5/2024, Trần Văn T2 cùng Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H1, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Anh N2, Nguyễn Hữu C2, Trần Văn T10 và Nguyễn Đình Xuân A2 đang ngồi chơi ở bờ ao thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thì Ngô Việt A điều khiển xe mô tô đi qua vị trí nhóm của T2 đang ngồi. Giữa Việt A và nhóm của T2 xảy ra xích mích cãi chửi nhau nên T2 hô hào mọi người đuổi theo để đánh Việt A. T2 điều khiển xe mô tô chở H1, H1 cầm hai thanh kiếm. T6 điều khiển xe mô tô chở C1, N2 và H4, C1 cầm một thanh kiếm, H4 cầm một chiếc chổi tre. Đ điều khiển xe mô tô chở T và Pháp ngồi sau. Trên đường đi, Đ dừng xe lại để T, Pháp xuống xe và mỗi người nhặt một viên gạch. Việt A bỏ chạy đến quán trà sữa “Toco” ở thôn Đ thì dừng xe lại xuống xe và rút từ trong người ra một gậy rút bằng kim loại rồi đứng ở cửa quán. Nhóm T2 đuổi đến trước cửa quán "" thì Việt A cầm gậy rút lao về phía nhóm của T2 giơ gậy lên đánh nhưng không trúng ai. Thấy nhóm của T2 đông người nên Việt A bỏ chạy vào bên trong quán “Toco”. Lúc này, bên trong quán có anh Nguyễn Đức A1, anh Nguyễn Đức N3, anh Vũ Ngọc B, anh Nguyễn Tiến M đang ngồi uống nước. H1 cầm hai thanh kiếm ở hai tay đuổi theo Việt A rồi dùng tay phải giơ thanh kiếm cao qua đầu, chém một nhát từ trên xuống dưới, chếch từ trái sang phải trúng phần lưng của Việt A. Khi thấy nhóm T2 lao vào chém Việt A thì các anh A1, N3, B và M sợ hãi bỏ chạy ra sau quán. Lúc này, H1 đuổi theo M rồi H1 cầm kiếm chém một nhát từ trên xuống dưới, chếch từ trái sang phải trúng phần lưng của M. Sau đó, T2 giằng được một thanh kiếm từ tay của H1 rồi lao vào giơ kiếm lên để chém M thì được T10 và C2 can ngăn còn C1 cầm kiếm lao vào chém M thì được mọi người can ngăn. T và P cầm gạch đứng ở cửa quán, H4 cầm chổi đuổi vào trong quán để đánh nhau nhưng thấy nhóm người ở thôn Đ đã bỏ chạy nên vứt chổi và đứng ở cửa quán. Sau đó, cả nhóm lên xe quay về đình thôn Đ.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn P, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4 và Ngô Việt A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo H1, chỉ vì va chạm nhỏ với Ngô Việt A, bị cáo bất chấp lý do, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, bị cáo đã sử dụng hung khí là thanh kiếm gây thương tích cho Việt A và anh M, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ. Tại thời điểm bị cáo H1 gây thương tích cho anh M, anh M chưa đủ 16 tuổi. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Việt A tại thời điểm giám định là 7%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh M tại thời điểm giám định là 3%.
8
Do vậy hành vi của bị cáo H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, c, i khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo Việt A, T2, C1, T6, Pháp, T, Đ, H4 đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng, ảnh hưởng đến đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình ổn định đời sống của người dân gây, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo H1 đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của anh M, Việt A được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
2. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T2, C1, T6, Pháp, T, Đ, H4, H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Việt A: Tại Bản án số 215/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xử phạt V 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng. Bị cáo Việt A tiếp tục phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” trong thời gian thử thách. Do vậy bị cáo Việt A phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội các bị cáo T2, H1, C1, T6, Pháp, T, Đ, H4 đã đến Công an đầu thú. Bị cáo C1 và bị cáo H4 có thời gian phục vụ trong quân đội. Các bị cáo T2, H1, T6, Pháp, C1, T đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại là anh M và Việt A. Vì vậy bị cáo H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Việt A được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo T2, T6, Hiến P1, C1, H4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P1, T, Đ, H4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuy nhiên bị cáo H1: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118 ngày 25/01/2022 của Công an huyện Y xử phạt Hiến 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội Cố ý gây thương tích.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với nhóm các bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng. Tuy vụ án có nhiều bị cáo tham gia song giữa các bị cáo giúp sức lẫn
9
nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên đây là vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn.
Trong vụ án này, bị cáo T2 là người giữ vai trò chính trong vụ án, T2 là người hô hào các bị cáo khác đuổi theo để đánh Việt A và điều khiển xe mô tô chở các bị cáo để đuổi đánh Việt A. Bị cáo T2 và bị cáo P1 là người cung cấp hung khí. Khi thấy bị cáo H1 chém anh M thì bị cáo T2 và C1 cầm kiếm lao vào chém anh M nhưng mọi người can ngăn, bị cáo T và bị cáo P1 cầm gạch đứng ở cửa quán, bị cáo Hoàng C3 chổi đuổi mọi người vào trong quán. Bị cáo T6 và bị cáo Đ là người điều khiển xe mô tô chở các bị cáo để đuổi đánh Việt A và có vai trò thấp nhất. Do vậy bị cáo T2 phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác, tiếp đến là bị cáo C1, T, Pháp, H4, Đ và T6.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo Việt A, H1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Việt A, khi phạm tội bị cáo Việt A 17 tuổi 6 tháng 15 ngày nên Việt A được Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi để tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đối với các bị cáo T, Pháp, T2, Đ, C1, T6, H4 không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình mỗi bị cáo H1, Pháp đã tự nguyện bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 5.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T2 đã tự nguyện bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T6 đã tự nguyện bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng. Gia đình C1 đã tự nguyện bồi thường cho Việt A và M mỗi người số tiền 11.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại anh Nguyễn Văn M1 (đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Hà T8) yêu cầu bị cáo H1 tiếp tục bồi thường cho anh M1 số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo Việt A không yêu cầu bị cáo H1 phải bồi gì thêm, bị cáo H1 không đồng ý tiếp tục bồi thường cho anh M1 số tiền 40.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngô Việt A nằm viện từ ngày 14/5/2024 đến ngày 17/5/2024, chi phí khám chữa bệnh có hóa đơn chứng từ là 2.986.000 đồng, anh Nguyễn Văn M1 nằm viện 14/5/2024 đến ngày 17/5/2024, chi phí khám chữa bệnh có hóa đơn chứng từ là 3.243.000 đồng. Tại Điều 590 Bộ luật dân sự quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị hại, ngoài ra người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường tổn thất về tinh thần, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá năm mươi lần mức
10
lương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo Nghị định số 73/2024/NĐ – CP, ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ: Từ ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng. Do đó việc gia đình anh M1 yêu cầu bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng là là không phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc bị cáo H1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M1 số tiền là 24.000.0000 đồng, do bị cáo Việt A đã bồi thường cho anh M1 số tiền là 11.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo Việt A tiếp tục bồi thường cho anh M1 số tiền là 13.000.000 đồng.
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với 01 thanh kiếm dài 66,5cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, kiếm 01 lưỡi, đầu kiếm nhọn; 01 vỏ bao kiếm bằng vải màu đen là vật liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với hai viên gạch mà bị cáo T và P1 cầm với mục đích để đánh nhau, sau khi xảy ra sự việc T và P1 đã vứt hai viên gạch ở ven đường; Đối với cây chổi mà bị cáo Hoàng C3, sau khi xảy ra sự việc Hoàng vứt cây chổi này ở trước cửa quán nước “Toco”; Đối với hai thanh kiếm bằng kim loại do bị cáo C1 và bị cáo H1 dùng làm hung khí đánh nhau, sau khi xảy ra sự việc, nhóm của T2 mang hai thanh kiếm này về để ở ghế đá ao đình thôn Đ; Đối với chiếc gậy ba khúc bằng kim loại do bị cáo Việt A sử dụng để đánh nhau, sau đó Việt A bỏ chạy và vứt ở cửa quán ". Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành truy tìm các hung khí nêu trên nhưng chưa tìm được, khi nào thu được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với: Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen BKS 99D1-415.06 do bị cáo T6 điều khiển là xe của anh Nguyễn Thành V1, sinh năm 1977 (bố đẻ của T6). Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh tím than BKS 99D1-483.40 do bị cáo Đ điều khiển là xe của anh Hoàng Văn P2, sinh năm 2003 (em ruột của C1). Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125I màu đen BKS 99D1-510.04 mà Trần Văn T2 điều khiển là xe của anh Trần Văn T3, sinh năm 1979 (là bố đẻ của T2). Do anh V1, anh P2, anh T3 không biết việc các bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ đối với các xe mô tô trên là phù hợp.
5. Những vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Anh N2 là người ngồi sau xe của bị cáo T6. Anh N2 chỉ đi theo để xem diễn biến sự việc, không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với N2 mà chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với nhóm thanh niên đi xe mô tô cầm theo gậy đi từ hướng thôn Đ đến thôn Đ chửi bới nhóm của T2. Đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được được thông tin cụ thể của những người này, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
6. Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
11
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
- - Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn P, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4 và Ngô Việt A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 26 (hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Trần Bình T 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T6 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 26 (hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 26 (hai mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Trần Bình T, Nguyễn Văn P, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Việt A 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 215/2023/HSST, ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai
12
bản án là 44 (bốn mươi bốn) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/6/2024.
+ Áp dụng điểm a, c, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Nguyễn Văn H1 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/5/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Việt A 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M1 do bà Nguyễn Hà T8 là đại diện số tiền là 13.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì được thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kiếm dài 66,5cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, kiếm 01 lưỡi, đầu kiếm nhọn; 01 vỏ bao kiếm bằng vải màu đen
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD trích xuất camera an ninh, 09 đĩa ghi âm hỏi cung của các bị cáo.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Văn T2, Hoàng Văn C1, Nguyễn Duy T6, Nguyễn Văn P, Trần Bình T, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn H4 và Ngô Việt A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho các bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
13
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
14
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA Nguyễn Thị Hà Nguyễn Thị T11 |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc T12 |
15
16
17
18
Bản án số 196/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về truy tố về tội gây rối trật tự công cộng và tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 196/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Truy tố về tội Gây rối trật tự công cộng và tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Việt Anh cùng đồng bọn - GRTTCC, CYGTT
