Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HS-PT

Ngày: 22-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du và ông Mai Nam Tiến

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 256/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2024/QĐXXPT-HS ngày 10/10/2024 đối với:

* Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Văn H, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1995; CCCD số: [...]; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nơi ĐKHKTT, nơi cư trú và nơi ở hiện tại: : thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn Đ sinh năm 1969 và bà Bùi Thị D sinh năm 1969; có vợ là Bùi Thị N sinh năm 1996 (đã ly hôn) và 02 con lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2017; gia đình có 4 anh chị em bị cáo là con thứ 2; Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/5/2019, bị TAND huyện Thạch Thành xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về Tội “Tổ chức đánh bạc”. Hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đương nhiên được xóa án tích;

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 31/5/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người bị hại:

* Bị hại: Anh Bùi Văn Đ1, sinh năm: 1995(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  1. Anh Bùi Văn T, sinh năm: 1979(Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Chị Bùi Thị T1, sinh năm: 1979(Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Anh Bùi Văn D1, sinh năm: 1990(Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  7. Anh Bùi Văn H1, sinh năm: 1992(vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Anh Bùi Văn Đ2, sinh năm: 1997(Vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 07/02/2016 (tức tối giao thừa Tết Nguyên đán Bính Thân), Bùi Văn H (SN 1995, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T) điều khiển xe mô tô Honda wave alpha màu sơn trắng, BKS 36E1-195.20 cùng đi với Bùi Văn T (SN 1979), Bùi Văn V (SN 1961) và Bùi Thị T1 (SN 1979) và một số người khác cùng trú thôn Đ, xã T đến thôn T, xã T, huyện T để viếng đám tang họ hàng. Khoảng 15 phút sau thì nhóm người của H viếng xong và ra về. Khi về, bà Bùi Thị T1 đi trước, Bùi Văn H đi xe mô tô một mình phía sau, tiếp đó là Bùi Văn T, Bùi Văn V và một số người khác đi sau. Lúc này, Bùi Văn Đ2 (SN 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện T) đang đứng cùng một nhóm thanh niên cùng trú tại thôn T, xã T ở khu vực ngã ba, gần quán T2. Đ2 nghe thấy tiếng rồ ga xe mô tô của H, cho rằng nhóm mình đang bị trêu tức, khiêu khích nên đã chạy ra dùng chân đạp vào đuôi xe mô tô của Bùi Văn H làm xe và người H ngã xuống lề đường bên trái. Bùi Văn T đi sau nên thấy xe H bị ngã đã dừng xe lại, giúp H dựng xe lên. Lúc này, Bùi Văn Đ1 (SN 1995, trú tại thôn T, xã T - là anh trai của Đ2) đang trong quán tạp hóa ở ngay tại ngã 3 thôn T nghe thấy tiếng va đập mạnh ở phía ngoài đường, nên chạy ra để xem xảy ra chuyện gì, rồi Đ1 đi đến chỗ xe mô tô bị ngã để cùng T giúp H dựng xe lên. Sau đó, T đi quay lại chỗ xe của T, còn Đ1 dùng một tay khoác vai H cùng đi về phía nhóm thanh niên thôn T ở khu vực ngã ba. Khi Đ1 đang nói chuyện với H thì thấy H cầm trên tay phải 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 20cm, mũi sắc nhọn. Thấy vậy Đ1 nói “mày cầm dao vào đây làm gì” đồng thời dùng tay đấm vào mặt H một cái. Do bị đánh, H dùng dao đang cầm trên tay đâm một cái về phía vùng cánh tay trái của Đ1, H tiếp tục vung dao đâm 01 cái vào vùng bụng bên trái của Đ1. Cùng lúc này, Bùi Văn Đ2 và nhóm thanh niên của thôn T, xã T lao đến đánh Bùi Văn T làm Bùi Văn T bất tỉnh, ngã ra lề đường. Khi thấy có tiếng hô “Thằng H2 bị đâm rồi” (tức Đ1 bị đâm) nên Đ2 và một số nam thanh niên lùa đuổi theo H. Trong lúc bỏ chạy, H bị ngã và bị thương tích, khi đứng dậy H có giơ con dao cầm theo khua đi khua lại để đe dọa nhóm người lùa theo và tiếp tục bỏ chạy. H chạy qua nhà bà Bùi Thị Q ở thôn T, xã T rồi nhảy qua tường rào, chạy tiếp ra đường để bắt xe lên trạm y tế xã T để xử lý vết thương. Thấy không đuổi kịp được H, nhóm thanh niên thôn T, xã T quay lại đưa Bùi Văn Đ1 đi cấp cứu. Hậu quả, Bùi Văn T, Bùi Văn H, Bùi Văn Đ1 bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại các cơ sở y tế. Ngay sau đó, Công an xã T đã tiếp nhận vụ việc và chuyển Cơ quan điều tra Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.

* Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 20 giờ ngày 07/02/2016 tại Trạm y tế xã Thành Mỹ đối với Bùi Văn Đ1 có các vết thương: 01 vết thương tại mặt trong 1/3 dưới cánh tay trái, dài 04cm, rách da, chảy máu; 01 (một) vết thương tại vùng ngực trên mũi ức, dài 1,5cm, vết thương rách da, chảy máu.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 105/2016/TTPY ngày 22/4/2016 của Trung tâm P, xác định:

- Vết thương thấu bụng gây vết thương gan trái; đã được phẫu thuật khâu vết thương gan; hiện tại còn sẹo mổ xử lý vết thương thấu bụng khâu cầm máu gan vùng đường trắng giữa trên rốn: 31% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 5; mục VII; 2.1)

- Vết thương vùng 1/3 dưới cánh tay trái đã được phẩu thuật xử lý vết thương; hiện tại còn di chứng tổn thương dây thần kinh trụ bên trái ngang mức vết thương 1/3 dưới cánh tay trái: 11% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 2; mục VII; 3.17)

- Sẹo vết thương và sẹo mổ xử lý vết thương vùng mặt trong ½ dưới cánh tay trái, vùng cạnh mũi ức bên trái; số lượng sẹo ít, kích thước từ trung bình đến lớn: 8% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 9; mục I; 3)

- Vết thương vùng 1/3 dưới cánh tay trái làm đứt động mạch cánh tay; đã được phẫu thuật khâu nối động mạch; hiện tại siêu âm không thấy hình ảnh bất thường động mạch cánh tay trái: 7% (Thông tư 20/2014/TT-BYT; Bảng 1; chương 3; mục II; 2.2.1).

Kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 47%.

* Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 511/KL ngày 28/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P xác định các thương tích của Bùi Văn Đ1 do ngoại lực tác động, gây ra bởi vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Đối tượng dùng dao bấm kim loại, dài khoảng 20cm, mũi sắc nhọn nếu được làm vật gây thương tích thì có thể gây ra thương tích cho Bùi Văn Đ1.

Quá trình điều tra, Bùi Văn H thừa nhận bản thân H là người một mình điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 36E1-195.20 đi cùng đoàn người ở thôn Đ, xã T, huyện T đi sang thôn T, xã T đi viếng đám tang họ hàng, khi đi H mặc áo bò màu xanh sẫm, quần đen đồng thời là người bị nhóm thanh niên thôn T, xã T tác động vào xe của H nên cả xe và người H bị ngã. H khai bản thân H không được đánh ai đồng thời H không thừa nhận việc H dùng dao gây thương tích cho Bùi Văn Đ1. Tuy nhiên, thông qua nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra, bị hại Bùi Văn Đ1 khẳng định đối tượng mà Đ1 dùng tay đánh vào mặt và đối tượng dùng dao kim loại đâm Đ1 đều cùng một người có dáng người thấp lùn, mặc áo bò màu xanh sẫm, quần màu đen. Kết quả làm việc với nhóm người đi cùng H (có Bùi Văn T, Bùi Văn V, Bùi Thị T1) và nhóm người thôn T, xã T, xác định tại thời điểm xảy ra xô xát, Bùi Văn H mặc áo bò có tông màu xám-xanh, quần màu đen, đi giày màu đen, là người có dáng thấp lùn nổi bật - đặc điểm riêng biệt của H với tất cả những người tại khu vực xảy ra sự việc. Đồng thời, H là người duy nhất bị ngã xe mô tô. Đối với lời khai của những người có mặt tại nơi xảy ra vụ việc gồm Bùi Văn D1, Bùi Văn H1 đều xác định người thấp lùn (Bùi Văn H) là người đứng cạnh Đ1 và sau đó Đ1 bị thương.

Với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được đủ căn cứ xác định Bùi Văn H đã dùng dao (dạng dao bấm, là hung khí nguy hiểm) bằng kim loại, dài khoảng 20cm, mũi sắc nhọn gây thương tích cho Bùi Văn Đ1 thương tích 47% sức khỏe. Hành vi của Bùi Văn H đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Bùi Văn TBùi Văn H, sau khi vụ xô xát diễn ra, TH đều bị thương tích, được xác định nguyên nhân do nhóm thanh niên thôn T, xã T gây ra trong quá trình xô xát. Tuy nhiên, Bùi Văn TBùi Văn H đã có đơn từ chối giám định thương tích đồng thời không yêu cầu gì. Do đó, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng đã gây thương tích cho Bùi Văn TBùi Văn H. Đến nay, cũng đã hết thời hiệu xử lý hành chính đối với hành vi của các đối tượng đã gây thương tích cho Bùi Văn TBùi Văn H nên không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ xác định Bùi Văn H đã gây thương tích cho Bùi Văn Đ1 bằng dao (dạng dao bấm) bằng kim loại, dài khoảng 20cm, mũi sắc nhọn, sau đó Bùi Văn H đã bỏ chạy, mang theo dao này, không giao nộp. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Bùi Văn H nhưng không thu giữ được.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu honda Wave alpha, màu trắng, BKS 36E1-195.20 không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can Bùi Văn H là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Văn Đ1 yêu cầu bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Hiện tại Bùi Văn H chưa thực hiện việc bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 19/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 08(tám)năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (31/5/2024).

Áp dụng: Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 584, 585, 589, 590 BLDS; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Khoản 1 Điều 6, điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

-Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho Bùi Văn Đ1 tổng số tiền là: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Từ khi anh Bùi Văn Đ1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

-Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 1.500.000đ án phí DSST.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định quyền kháng cáo.

Ngày 22/8/2024 (trong hạn luật định) bị cáo Bùi Văn H có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H, giảm hình phạt cho bị cáo từ 6 đến 12 tháng tù.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác cụ thể: Vào khoảng 19 giờ ngày 07/02/2016 (tức tối giao thừa Tết Nguyên đán Bính Thân), Bùi Văn H cầm trên tay phải 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 20cm, mũi sắc nhọn đâm một cái về phía vùng cánh tay trái của Bùi Văn Đ1, H tiếp tục vung dao đâm 01 cái vào vùng bụng bên trái của Đ1. Hậu quả theo kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 47% cho anh Đ1.

Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Hành vi xảy ra tại thời điểm BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật. So với quy định tại khoản 3 Điều 134 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Còn tội phạm và hình phạt tại khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là 05 năm đến 15 năm, nặng hơn về mức cao nhất của khung hình phạt. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 áp dụng tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS năm 2015 cho bị cáo.

[3] Về tính chất vụ án:

Vụ án thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của con người. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn H:

Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị hại cũng có một phần lỗi, tại phiên tòa bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là: Biên bản thỏa thuận do em trai bị cáo là Bùi Văn H3 cùng bị hại là anh Bùi Văn Đ1 đã thống nhất bồi thường và đã nhận đủ 30.000.000đ không có yêu cầu gì thêm và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có đơn đề nghị nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt; có phiếu thu 1.000.000đ ủng hộ nhà ở cho hộ nghèo; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai cáo nhận tội nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết mới nên cần xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Do vậy, kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn H. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS- ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt, bồi thường dân sự và án phí.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31 tháng 5 năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, không buộc bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT Công an H. Thạch Thành.TH;
  • - TAND, VKSND H. Thạch Thành.TH;
  • - Chi cục THA DS H. Thạch Thành.TH;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/HS-PT ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 196/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dùng dao đâm người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger