|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 196/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-12-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong và bà Phan Hoàng Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 645/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 735/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y (N), sinh năm 1990.
Cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ hiện nay: Số F, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Tấn L, sinh năm 1982.
Cư trú: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà và ông L tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2007, không tổ chức lễ cưới và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành và hiện vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân đã trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài nên bà Y yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông L.
Về con chung:
Có 01 (một) con chung tên Lê Hoàng H, sinh ngày 02/6/2009, hiện con chung đang sống cùng ông L. Khi ly hôn, bà Y đồng ý giao con chung cho ông L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết bị đơn ông Lê Tấn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Ông và bà Y tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, không tổ chức lễ cưới và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật như bà Y trình bày. Quá trình chung sống, ông và bà Y có xảy ra mâu thuẫn, nay nếu bà Y yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng thì ông L đồng ý vì vợ chồng không còn tình cảm và không thể hàn gắn được.
Về con chung:
Có 01 (một) con chung tên Lê Hoàng H, sinh ngày 02/6/2009, hiện con chung đang sống cùng ông L. Khi ly hôn, ông L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Y yêu cầu không công nhận bà và ông L là vợ chồng, ông L cư trú tại số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Y và ông L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Y và ông Lê Tấn L chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, quá trình chung sống do bất đồng về quan điểm sống và hiện tình cảm không còn nên bà Y yêu cầu không công nhận bà và ông L là vợ chồng. Nhận thấy, bà Y và ông L chung sống với nhau từ năm 2007 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của ông bà đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc đăng ký kết hôn và hậu quả của việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp, tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thị Y và ông Lê Tấn L là vợ chồng.
Về con chung:
Có 01 (một) con chung tên Lê Hoàng H, sinh ngày 02/6/2009, hiện con chung đang sống cùng ông L. Sau ly hôn, bà Y và ông L đều thống nhất giao con chung cho ông L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; đồng thời, nguyện vọng của cháu H cũng mong muốn được sống cùng cha. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu H khi bà Y và ông L ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu H cho ông L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông L cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Y trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trường hợp bà Y lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Y.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng:
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, ông L là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu bà Y cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung:
Bà Y và ông L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y.
Về quan hệ hôn nhân:
Không công nhận bà Nguyễn Thị Y và ông Lê Tấn L là vợ chồng.
Về con chung:
Có 01 (một) con chung tên Lê Hoàng H, sinh ngày 02/6/2009, hiện con chung đang sống cùng ông L. Ông L được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông L cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Y trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Hoàng H. Trường hợp bà Y lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì ông L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Y.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng:
Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001780, ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Y đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Bản án số 196/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 196/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu NĐ
