Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/DS-PT

Ngày: 25-4-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Ông Hồ Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 582/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023, về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc X, sinh năm: 1962.
  • Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chí T, sinh năm 1972. Địa chỉ cư trú: Số A - A đường N, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 19/3/2024; có mặt).
  • - Bị đơn: 1. Ông Trần Chí S, sinh năm: 1960 (có mặt).
  • 2. Bà B Lê Thị G, sinh năm: 1960 (có mặt).
  • Cùng địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện T; Địa chỉ: Khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
    2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn C - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (đề nghị xét xử vắng mặt).
    3. Ủy ban nhân dân thị trấn S; Địa chỉ: Khóm C, thị trấn S, huyện T tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc L - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn (vắng mặt).

  1. Anh Dương Phương A, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
  2. Anh Dương Tuấn A1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
  3. Cùng địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  4. Chị Trần Thị Tú N, sinh năm: 1981 (vắng mặt).
  5. Chị Trần Thị Kim X1, sinh năm: 1982 (vắng mặt).
  6. Chị Trần Thị Kim S1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  7. Anh Huỳnh Văn Y, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
  8. Chị Trần Thị D, sinh năm:1990 (vắng mặt).
  9. Anh Trần Tứ S2, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
  10. Chị Quách Diệu H, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
  11. Cùng địa chỉ cư trú: Khóm B thị trấn S, huyện T, Cà Mau.

  12. Ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  13. Ông Nguyễn Thanh C1, sinh năm 1966; Địa chỉ cư trú: Khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Phạm Ngọc X (là nguyên đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Phạm Ngọc X kiện bị đơn là vợ chồng ông Trần Chí S, bà Lê Thị G đòi lại diện tích đất 74,6m², tọa lạc tại khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Về nguồn gốc đất tranh chấp được xác định trước đây là đất hoang hóa dọc theo con rạch Băng Ky đổ ra sông Ông Đ. Khi nhà nước xây cầu bắt ngang đầu con rạch nên tàu, ghe không vào neo đậu được, các hộ dân đến chiếm bồi đắp phần đất hai bên bờ con rạch để cất nhà ở. Năm 1998, Ủy ban nhân dân thị trấn S phân nền để cho mượn và cấp cho 27 hộ dân là những giáo viên, cán bộ của Ủy ban nhân dân thị trấn S và người dân theo diện khó khăn về nhà ở, trong đó có ông Dương Hoàng C2 (chồng bà Phạm Ngọc X, thời gian này ông Dương Minh C3 là Phó Chủ tịch Ủy ban thị trấn S) được cho mượn diện tích đất 100m². Do con rạch sâu nên việc san lắp khó khăn, các hộ mượn, cấp đất nền đã thuê san lấp mặt bằng nhưng vẫn còn ao trũng nên không ai sử dụng đất, từ đó các hộ phía trên bờ bao chiếm sử dụng, lấn dần ra phía con rạch Băng Ky, trong đó có hộ ông Trần Chí S, bà Lê Thị G. Năm 2000, đo đạc lập bản đồ địa chính các phần đất tranh chấp được ông Dương Hoàng C2 kê khai tại bản đồ địa chính số 11; năm 2012 được đo đạt, chỉnh lý biến động phần đất trên được chỉnh lý kê khai tại thửa số 52 tờ bản đồ số 49, diện tích 100m²; ông Trần Chí S đăng ký kê khai hai phần đất tại thửa số 80 diện tích 126,1m² và thửa số 136 diện tích 59,4m².

Bà Phạm Ngọc X xác định là tại thời điểm năm 1998, phần đất hiện đang tranh chấp là Nhà nước có chủ trương cấp đất cho chồng bà là ông Dương Minh C3 là cán bộ, công chức tại đơn vị Ủy ban nhân dân thị trấn S. Tại thời điểm cấp là mặt nước, gia đình bà đã thuê người làm bờ kè, bơm cát san lấp vào năm 2001, nhưng chưa có nhu cầu sử dụng nên để trống. Năm 2017 thì mới phát hiện vợ chồng ông Trần Chí S lấn chiếm sử dụng trồng cây ăn trái, bà đã yêu cầu đến chính quyền địa phương để giải quyết nhưng vợ chồng ông Trần Chí S không trả đất nên đã khởi kiện yêu cầu trả lại phần đất theo đo đạc là 96m².

Ông Trần Chí S, bà Lê Thị G xác định là năm 1998, Ủy ban nhân dân thị trấn S cho mượn 01 phần đất 75m² (ngang 5m, dài 15m) cặp bờ rạch Băng Ky, do đất trống nên vợ chồng bà cơi nới thêm chiều ngang thành 5,3m và bồi đắp chiều dài lấn ra rạch Băng Ky dài 55m, sử dụng cho đến nay. Vợ chồng ông bà không lấn chiếm đất của bà Phạm Ngọc X vì phần đất này trước đây là con rạch Băng Ky gia đình ông bồi đắp, sử dụng trên 20 năm, đất thuộc diện do Nhà nước quản lý, nên chỉ đồng ý trả lại cho Nhà nước khi nào Nhà nước có chủ trương sử dụng đất.

Anh Dương Tuấn A1 thống nhất ý kiến của bà Phạm Ngọc X.

Ông Nguyễn Thanh L1 cho rằng, tại khu vực có đất tranh chấp thì Ủy ban thị trấn S có cấp cho anh của ông là Nguyễn Thanh C1 phần đất 100m², tại thửa số 53 và ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Duy D1 phần đất tại thửa số 81. Do phần đất của ông Trần Chí S có lấn sang phần đất của ông nhưng không xác định chính xác được vị trí và diện tích nên ông không có yêu cầu. Nếu có tranh chấp với ông Trần Chí S thì ông sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Ủy ban nhân dân thị trấn S cho rằng tại thời điểm năm 1998, Ủy ban nhân dân thị trấn S có cho các hộ dân mượn đất là phần đất mặt nước thuộc rạch Băng Ky để ở và các hộ dân đã đăng ký kê khai. Ủy ban nhân dân thị trấn S không có chủ trương cấp đất cho ông Dương Hoàng C2 và cũng không có cho ông Trần Chí S mượn đất. Việc tranh chấp giữa bà Phạm Ngọc X với vợ chồng ông Trần Chí S thì Ủy ban nhân dân thị trấn S chỉ có yêu cầu giải quyết theo qui định của Luật Đất đai.

Ủy ban nhân dân huyện T cho rằng từ nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà Phạm Ngọc X với vợ chồng ông Trần Chí S như đã nêu trên nên thửa đất tranh chấp có được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì cần phải xác minh thực tế nguồn gốc hiện trạng sử dụng đất và các điều kiện cần thiết đúng theo quy định để xác định. Do chưa có hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận cụ thể nên chưa xác định được.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2020/DS-ST ngày 27/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Ngọc X về việc yêu cầu buộc vợ chồng ông Trần Chí S, bà Lê Thị G giao trả phần đất theo đo đạc thực tế 96m², thửa số 52, tờ bản đồ số 49, tại khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tại Bản án phúc thẩm số 174/2020/DS-PT ngày 14/8/2020 của Tòa án tỉnh Cà Mau đã quyết định: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 58/2020/DS- ST ngày 27/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời. Giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Sau khi thụ lý, giải quyết lại vụ án, bà Phạm Ngọc X chỉ yêu cầu ông Trấn Chí S3, bà Lê Thị G giao trả diện tích đất theo đo đạc là 74,6m², tại khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Các đương sự còn lại giữ y ý kiến và yêu cầu.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc X về việc buộc ông Trần Trần Chí S, bà Lê Thị G giao trả cho bà phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 74,6m². Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Ngày 28/11/2023, bà Phạm Ngọc X kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc X.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Ngọc X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Ngọc X. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Kháng cáo của bà Phạm Ngọc X được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét về mặt tố tụng cho thấy các đương sự trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên việc xét xử đối với các đương sự vắng mặt là đúng qui định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn đưa nhiều đương sự chưa đủ điều kiện theo qui định tại Điều 68, 69 của của Bộ luật Tố tụng dân sự và có trường hợp không cần thiết để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do cấp sơ thẩm không làm rõ hết các trường hợp có liên quan đến việc tranh chấp nên cấp phúc thẩm cũng không có điều kiện để loại trừ hết những trường hợp người tham gia tố tụng không phải là đương sự trong vụ án. Việc đưa người tham gia tố tụng như trên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung.
  3. Xét về quan hệ pháp luật cho thấy, giữa bà Phạm Ngọc X với vợ chồng ông Trần Chí S, bà Lê Thị G tranh chấp với nhau phần đất có diện 74,6m², tại khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và áp dụng các qui định của Luật Đất đai để giải quyết là có căn cứ.
  4. Xét về phạm vi tranh chấp: Kết quả đo đạc đất tranh chấp thể hiện có một phần diện tích đất tại thửa 53 và thửa 81 tờ bản đồ số 49 do ông Trần Chí S, bà Lê Thị G đang quản lý và diện tích đất này ông Nguyễn Thanh L1 cho rằng phần đất của ông Nguyễn Thanh L1 nhưng ông Nguyễn Thanh L1 không có yêu cầu. Trong diện tích phần đất đang tranh chấp bà Phạm Ngọc X yêu cầu ông Trần Chí S, bà Lê Thị G trả lại 74,6m² và diện tích này không nằm trong diện tích hai thửa đất số 81 và 53 như đã nêu. Do ông Nguyễn Thanh L1 không có ý kiến tranh chấp và không có yêu cầu đối với phần đất đang do ông Trần Chí S quản lý, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét mà giao cho các bên tự thỏa thuận nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác là có căn cứ.
  5. Xét về nội dung tranh chấp và kháng cáo của bà Phạm Ngọc X:
  6. Xét về nguồn gốc đất tranh chấp: Trước năm 1998, là phần đất mặt nước thuộc con rạch Băng Ky chảy ra sông Ông Đ. Khi Nhà nước xây dựng cầu bắt qua con rạch thì ghe, tàu không vào rạch để neo đậu được, nên phù sa bồi đắp dần. Các hộ dân tự chiếm đất để cất nhà ở và sinh sống hai bên bờ con rạch, quá trình sinh sống cũng bồi đắp lấn dần ra phía ngoài con rạch. Năm 1998, Ủy ban thị trấn S đã cho một số hộ dân mượn đất nhằm mục đích để cất nhà ở trong đó ông Dương Hoàng C2 cũng được Ủy ban thị trấn cho mượn phần đất 100m². Sau khi được cho mượn đất thì các hộ dân được Ủy ban thị trấn cho mượn đất đã kê khai đăng ký khi thực hiện đo đạc, lập bản đồ đất đai vào năm 2000 (được chỉnh lý vào năm 2012). Sau khi được cho mượn đất, các hộ dân thực hiện việc san lấp mặt bằng, nhưng do địa hình trũng sâu nên việc san lấp chưa đủ điều kiện để đưa vào sử dụng và hầu hết những hộ được cho mượn đất đều không sử dụng mà bỏ đất trống. Thời gian này, những hộ sống ven hai bên bờ con rạch cũng tiếp tục cơi nới, lấn chiếm dần ra phía ngoài con rạch, trong đó có một phần đất đang tranh chấp do ông Trần Chí S, bà Lê Thị G quản lý, sử dụng hiện nay. Từ diễn biến trên cho thấy, trước năm 1998 thì phần đất đang tranh chấp thuộc diện đất do Nhà nước quản lý (Ủy ban nhân dân thị trấn S quản lý), từ năm 1998 thì Ủy ban nhân dân thị trấn S cho ông Dương Hoàng C2 mượn để cất nhà ở nhưng ông Dương Hoàng C2 không trực tiếp quản lý, sử dụng đất và phần đất này hiện đang do ông Trần Chí S, bà Lê Thị G quản lý, sử dụng mà theo ông Trần Chí S, bà Lê Thị G xác định là phần đất do lấn chiếm đất của Nhà nước quản lý chứ không phải là đất của bà Phạm Ngọc X, quá trình lấn chiếm đã bồi đắp, cải tạo để sử dụng cho đến nay.

    Xét về việc cấp đất, cho mượn đất, kê khai đăng ký đất đai và quá trình sử dụng đất tranh chấp: Theo Công văn 834/UBND-VP ngày 09/10/2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn S và Công văn số 444/UBND-VP ngày 13/12/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T đã xác định phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đất mặt nước thuộc con rạch Băng Ky đã được Ủy ban nhân dân thị trấn S cho mượn và cấp cho 27 hộ dân khó khăn về nơi ở trong đó có ông Dương Hoàng C2. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định việc Ủy ban nhân dân thị trấn S cho mượn và cấp đất cho 27 hộ dân là không đúng thẩm quyền, không phù hợp với qui định của pháp luật là hoàn toàn có căn cứ. Riêng đối với việc kê khai đăng ký sử dụng đất là được thực hiện theo chủ trương chung khi cơ quan chuyên môn đo đạc, lập bản đồ địa chính. Đối với phần đất của ông Dương Hoàng C2 không có căn cứ để chứng minh là đất do Ủy ban nhân dân thị trấn S cấp mà được cho mượn để sử dụng cất nhà ở và đã thuê san lấp mặt bằng nhưng nhưng do việc san lấp chưa sử dụng được nên ông Dương Hoàng C2, bà Phạm Ngọc X cũng không trực tiếp quản lý, sử dụng từ năm 2001 cho đến khi phát sinh tranh chấp. Còn ông Trần Chí S, bà Lê Thị G không được cấp đất hay cho mượn đất đối với diện tích đất tranh chấp mà là do lấn chiếm đất, bồi đắp và sử dụng từ năm 1998.

    Xét về điều kiện và thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ vào qui định tại điểm 9 Điều 3 của Luật Đất đai cho thấy việc công nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình chính là thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các qui định cụ thể tại các Điều 100, 101 của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, được sửa đổi bổ sung tại các Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 và Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ. Thẩm quyền giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo qui định tại Điều 105 của Luật đất đai và theo qui định trên thì Ủy ban nhân dân thị trấn S (thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, phường) không có thẩm quyền giao đất, cấp đất hay cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ có thẩm quyền quản lý đất theo qui định tại Điều 8 của Luật Đất đai và các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.

    Tại Văn bản số: 444/UBND-VP ngày 13/12/2019; Công văn số: 438/UBND-VP ngày 17/02/2020; Công văn số 526/UBND-VP ngày 27/02/2020 và Công văn 2302/UBND-VP ngày 02/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T cũng là cơ quan có thẩm quyền trong việc giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân cũng đã xác định việc ông Dương Hoàng C2 đăng ký, kê khai thửa đất nhưng từ khi đăng ký kê khai ông Dương Hoàng C2 không trực tiếp quản lý, sử dụng đất mà để cho ông Trần Chí S lấn chiếm, sử dụng. Thửa đất có được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không thì cần phải xác minh nguồn gốc, hiện trạng sử dụng và các điều kiện khác đúng theo quy định. Do chưa có hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận của người sử dụng đất nên Ủy ban nhân dân huyện T chưa xác định được.

    Từ các căn cứ đã phân tích trên cho thấy phần đất tranh chấp thuộc đất do nhà nước quản lý nên việc giao đất, công nhận quyền sử dụng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thuộc diện cấp lần đầu và thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Phần đất trên do ông Trần Chí S, bà Lê Thị G tự lấn chiếm và quản lý sử dụng đất. Còn ông Dương Hoàng C2, bà Phạm Ngọc X thì đã kê khai đăng ký, san lấp mặt bằng (chưa hoàn thiện) nhưng lại không trực tiếp quản lý sử dụng đất và chưa lập hồ sơ yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét giao đất, công nhận quyền sử dụng đất. Do chưa được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nên bà Phạm Ngọc X chưa đủ điều kiện để xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho mình nên chưa có đủ căn cứ để buộc ông Trần Chí S, bà Lê Thị G trả lại đất. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc X là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Ngọc X cũng không cung cấp thêm được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Ngọc X. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  7. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
  8. Bà Phạm Ngọc X là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định chung.
  9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Ngọc X. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  3. Áp dụng các Điều 26; 147, 148; 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 3; 100; 101; 105, 203 của Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
    • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc X về việc buộc ông Trần Chí S, bà Lê Thị G giao trả phần diện tích đất 74,6m², tọa lạc tại khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
    • - Chi phí đo đạc, thẩm định giá là 12.943.000 đồng, bà Phạm Ngọc X phải chịu, đã nộp xong.
    • - Bà Phạm Ngọc X được miễn án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0008578 ngày 21/8/2018 và số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0003451 ngày 07/4/2020 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
  4. Bà Phạm Ngọc X được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 196/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phạm Ngọc X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Ngọc X. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger