trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/DS-PT

Ngày 12-12-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng thuê

và quản lý tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn

Ông Thái Văn Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:116/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng thuê và quản lý tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 200/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T; nơi cư trú: C T, phường B, Quận P, TP

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Minh T1; nơi cư trú: D T, phường T, quận A, TP. (Văn bản uỷ quyền ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại Văn phòng C1, địa chỉ: 4 N, phường A, quận G, TP. Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Công ty cổ phần F.

Địa chỉ trụ sở: Khu phố D, khu D - C, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T2. Đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Minh Đ; nơi cư trú: tầng C, Toà nhà F1, ngõ E L, M, N, Hà Nội (Văn bản uỷ quyền số 0613/GUQ-GĐ ngày 17/6/2024 và ngày 11/12/2024; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần F

Địa chỉ trụ sở: Tầng E, Tòa nhà F, đường L, phường M, Quận N, Thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến D- Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Bà Đinh Hồng H; nơi cư trú: tầng C, Toà nhà F1, ngõ E L, M, N, Hà Nội (Văn bản uỷ quyền số 185/GUQ-TGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần F.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 8 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Minh T1 trình bày:

Ngày 10/01/2019, bà T có ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản 18B24/2019/HĐTCH - THECOASTALHILL với Công ty Cổ phần F và R (Gọi tắt là Công ty F). Căn hộ của bà T thuộc dự án C, Z đến nay chủ đầu tư chưa bàn giao cho bà. Theo Điều 2 của hợp đồng thuê và quản lý tài sản, bà T đồng ý cho Công ty Cổ phần F thuê căn hộ của bà tại căn số B, tầng H, Z, diện tích 65,3m², thuộc Dự án Khu đô thị S tọa lạc tại Khu K, xã N, Thành phố Q, Tỉnh Bình Định do chủ đầu tư là Công ty Cổ phần F đầu tư, phát triển. Về giá thuê các bên thỏa thuận với giá tính tiền thuê được quy định tại khoản 1.1.10 của Điều 1 Hợp đồng là: 2.401.199.727 đồng. Theo Điều 3 của hợp đồng thuê thì trong vòng 10 năm đầu tiên, bên thuê - F phải trả tiền thuê theo giá thuê bằng 85% lợi nhuận/năm, nhưng trong mọi trường hợp là không thấp hơn 10%/năm giá tính tiền thuê (Giá thuê định mức) nêu trên, sau khi trừ đi các khoản thuế (nếu có) mà bên A phải nộp cho nhà nước. Về phương thức thanh toán là chuyển khoản, thời hạn tính tiền thuê theo quy định tại Điều 4.2 hợp đồng này cụ thể như sau: Giá thuê của 12 tháng đầu tiên kể từ ngày bắt đầu thì bên thuê thanh toán cho tôi một lần trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày tôi thanh toán cho chủ đầu tư 95% giá bán căn hộ (Sau khi trừ đi các khoản khuyến mãi, chiết khấu bán hàng và các khoản giảm giá nếu có). Giá thuê của các năm tiếp theo được bên thuê thanh toán thành 02 kỳ trong một năm vào tháng 06 và tháng 12. Chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng 06 và tháng 12 bên thuê phải hoàn thành việc thanh toán tiền thuê nêu trên. Thời hạn thuê theo thỏa thuận tại Điều 5 hợp đồng là kể từ ngày ký hợp đồng thuê cho đến ngày cuối cùng của thời hạn 50 năm hoạt động của dự án theo giấy Chứng nhận đầu tư số 4370744030 do UBND Tỉnh B cấp lần đầu ngày 24/04/2015. Thực tế, sau khi ký hợp đồng mua bán căn hộ, Công ty F, chỉ trả tiền thuê của năm 2019 (kể từ ngày 10/01/2019 đến 31/12/2019). Còn các khoản tiền thuê của các năm 2020, 2021 và 2022 và kỳ 1/2023 thì Công ty F không thanh toán như đã cam kết thời hạn đảm bảo thu nhập 10 năm đầu tiên. Tổng tiền thuê của các năm 2020, 2021, 2022 và kỳ 1/2023 mà Công ty F chưa thanh toán được tính như sau: 3 x 10% x 2.401.199.727 đồng + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng = 720.359.918 đồng +120.059.986đồng= 840.419.904 đồng (làm tròn). Theo thỏa thuận về phạt lãi chậm thanh toán tiền thuê tại Điều 10.1 Hợp đồng thuê và quản lý tài sản. Cụ thể nếu quá 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán mà bên thuê không thanh toán thì khoản tiền chậm thanh toán sẽ bị tính lãi

suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền gửi tiết kiệm sau kỳ hạn 06 tháng đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng Đ1 (B) tính từ ngày 31 kể từ ngày cuối cùng cho đến ngày bên thuê thanh toán khoản tiền đó. Hiện tại B công bố lãi suất tiền gửi cá nhân kỳ hạn 06 cuối kỳ trong tháng 2/2023 là: 05%/năm. Khoản phạt lãi chậm thanh toán tiền thuê bà xin tự nguyện tính: Lãi chậm thanh toán tiền thuê kỳ 1/2020; kỳ 2/2020; kỳ 1/2021; kỳ 2/2021; kỳ 1/2022;kỳ 2/2022. Theo đó, lãi chậm thanh toán tiền thuê tạm tính đến 01/08/2023 là: 150% x 5%/12 x { ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 36 tháng (tính từ 01/08/2020 đến 01/08/2023) + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 30 tháng (tính từ 01/02/2021 đến 01/08/2023) + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 24 tháng (tính từ 01/08/2021 đến 01/08/2023) + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 18 tháng (tính từ 01/02/2022 đến 01/08/2023) + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 12 tháng (tính từ 01/08/2022 đến 01/08/2023) + ½ x 10% x 2.401.199.727 đồng x 06 tháng (tính từ 01/02/2023 đến 01/08/2023)} = 0,75% x 120.059.986,35 đồng x 126 tháng= 113.456.687 đồng (làm tròn). Tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê mà Công ty F phải bị phạt là: 113.456.687 đồng. Tổng số tiền mà bà yêu cầu Công ty Cổ phần F và Resort thanh toán là: 953.876.591 đồng.

Bị đơn Công ty Cổ phần F:

Năm 2019, Công ty F và bà Nguyễn Thị Thu T ký kết hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 18B24/2019/HĐTCH-THECOASTALHILL về việc thuê và quản lý căn hộ số 18B24. Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty F đã thanh toán tiền thuê căn hộ các đợt như sau: Ngày 25/6/2019 thanh toán tiền thuê cho bà Nguyễn Thị Thu T tiền thuê 12 tháng (10/01/2019-31/12/2019) số tiền 215.807.975 đồng. Đối với G thuê kỳ I năm 2023: Căn cứ theo Điều 4.2.1 thì giá thuê trong thời hạn đảm bảo thu nhập sẽ được F tạm ứng cho nguyên đơn thành hai kỳ vào tháng 01 và tháng 07. Đây là hai thời điểm để F tạm ứng giá thuê không phải là thời hạn thanh toán giá thuê. Chậm nhất đến ngày 30/04 của năm dương lịch tiếp theo căn cứ vào báo cáo tài chính của F thì F sẽ thực hiện quyết toán và thanh toán giá thuê cho khách hàng của năm trước đó. Như vậy, căn cứ theo thỏa thuận của các bên tại Điều 4.2.1 Hợp đồng thuê thì thời hạn cuối cùng để F thanh toán giá thuê cho nguyên đơn là ngày 30/04 của năm dương lịch tiếp theo. Ví dụ: thời hạn cuối cùng F có nghĩa vụ thanh toán giá thuê của năm 2019 cho nguyên đơn là ngày 30/04/2020. Tương tự cách xác định như vậy cho các năm tiếp theo. Để làm rõ, khái niệm “tạm ứng” và “thanh toán” là hai hoạt động khác nhau và không đồng nhất. Xét trong hợp đồng thuê và quản lý tài sản giữa nguyên đơn và Công ty F: các năm đầu tiên sau khi ký hợp đồng số tiền Công ty F tạm ứng giá thuê có thể bằng đúng số tiền giá thuê mà Công ty F có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn. Do các bên đã thỏa thuận trong mọi trường hợp trong thời hạn đảm bảo thunhập giá thuê không thấp hơn 10% giá tính tiền thuê nên Công ty F đã tạm ứng trước thành hai kỳ cho nguyên đơn số tiền 10% giá tính tiền thuê này. Tuy nhiên, việc thanh toán và quyết toán giá thuê của từng năm cho nguyên đơn phụ thuộc vào lợi nhuận năm đó của F và các bên đã thỏa thuận việc quyết toán giá thuê này được thực hiện chậm nhất vào 30/04 của năm kế tiếp (theo Điều 4.2.1 Hợp đồng thuê). Do đó, với quy định nêu trên thì việc bị đơn yêu cầu F thanh toán giá thuê 6 tháng đầu tiên trong năm 2023 là không có cơ sở vì chưa đến thời hạn

30/04/2024. Đối với giá thuê năm 2020 và 2021: Trong quá trình thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, cả nước nói chung và F nói riêng đã phải chịu những ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề bởi sự kiện bất khả kháng là dịch Covid-19 kéo dài từ đầu 2020 với quyết định số 447/QĐ-TTg ngày 01/04/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc công bố dịch Covid-19 tại Việt Nam cho đến tận 16/02/2022 thì Văn phòng Chính phủ mới ban hành thông báo số 43/TB-VPCP về việc cho phép mở cửa lại hoạt động du lịch từ 15/03/2022.Trong khi thực tế, thời điểm ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản được ký kết vào thời điểm năm 2017, là thời điểm được đánh giá là thời kỳ phát triển rực rỡ của du lịch Việt Nam. Vì vậy, trên cơ sở bối cảnh phát triển du lịch tiềm năng, F đã cam kết lợi nhuận 10%/năm. Theo đó, sau khi khai trương và hoạt động, F cũng đã chi trả giá thuê theo đúng cam kết bằng tiền mặt tới nguyên đơn. Nhưng bởi sự bùng phát liên tục của dịch Covid-19 cùng với hàng loạt lệnh kiểm soát cấm vận/hạn chế di chuyển tại các khu vực trong nước và quốc tế là sự kiện khách quan đã khiến hoàn cảnh thực hiện Hợp đồng thuê và quản lý tài sản năm 2020, 2021 có sự thay đổi cơ bản so với thời điểm Hợp đồng thuê và quản lý tài sản được giao kết. Tuy nhiên F không thể chống chọi với ảnh hưởng nặng nề của đại dịch, vì thế F đề nghị Tòa án xem xét áp dụng quy định của trường hợp bất khả kháng do thay đổi hoàn cảnh khách quan đối với tiền thuê trong khoảng thời gian này. Bên cạnh đó, tiền thuê năm 2021 và 2022, F đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại Hợp đồng thuê để khấu trừ phần thuế mà F được giữ lại đối với khoản tiền thuê bao gồm: 5% thuế TNCN, 5% VAT và 300.000 đồng lệ phí môn bài. Đối với yêu cầu tính lãi: Đối với lãi chậm thanh toán giá thuê của 2020 và 2021; căn cứ khoản 2 Điều 351 BLDS 2015 F đề nghị miễn trách nhiệm dân sự trong hai năm dịch bệnh này. Đối với yêu cầu tính lãi chậm thanh toán giá thuê năm 2022: Đề nghị nguyên đơn làm rõ cách thức tính lãi, căn cứ áp dụng lãi suất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần F:

Tập đoàn F không có ý kiến gì đối với việc kiện giữa bà Nguyễn Thị Thu T và Công ty Cổ phần F.

Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu tính tiền thuê các kỳ 01/2020, kỳ 02/2020, kỳ 01/2021, kỳ 02/2021, kỳ 01/2022, kỳ 2/2022 và kỳ 1/2023 sau khi trừ các khoản thuế phải nộp cho nhà nước gồm: thuế môn bài 300.000 đồng/năm, GTGT 5% và thu nhập cá nhân 5% tổng cộng là 755.177.914 đồng và lãi suất chậm trả 3% x150%/365 theo Biên bản xác minh ngày 7/6/2024 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh B1 cung cấp từ ngày chậm thanh toán theo đợt đến 23/7/2024 tổng cộng là 81.367.747 đồng.

Bản án dân sự sơ thẩm số:175/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 351, 353, 357, 481 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 29 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T.
    1. Buộc Công ty cổ phần F phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu T tiền thuê các năm 2020, 2021, 2022 và kỳ 1/2023 theo Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số hợp đồng: 18B24/2019/HĐTCH - THECOASTALHILL ngày 10/01/2019 là 755.177.914 đồng.
    2. Buộc Công ty cổ phần F phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu T lãi chậm thanh toán tiền thuê các năm 2020, 2021, 2022 và kỳ 1/2023 theo Hợp đồng thuê và quản lý tài sản, số hợp đồng: 18B24/2019/HĐTCH - THECOASTALHILL ngày 10/01/2019 là 81.367.747 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số tiền trên, Công ty cổ phần F phải chịu lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số hợp đồng:18B24/2019/HĐTCH - THECOASTALHILL ngày 10/01/2019 là 3%/năm (3%/năm x150%).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2024, bị đơn Công ty Cổ phần F kháng cáo với nội dung không đồng ý trả tiền lãi do chậm thanh toán thuê căn hộ các năm 2020 và năm 2021 của bản án sơ thẩm. Lý do: dịch C- 19 là sự kiện bất khả kháng quy định tại khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự 2015.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

Công ty cổ phần F có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần F, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa theo các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

  1. Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần F & RESORT trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định, nên xem xét theo trình tự phúc
  2. thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh Đ là đại diện theo ủy quyền Công ty cổ phần F có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Hoàng Minh T1 là đại diện ủy quyền của nguyên đơn và bà Đinh Hồng H là đại diện ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần F đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. Xét kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần F, HĐXX thấy rằng:

    Ngày 10/01/2019 bà Nguyễn Thị Thu T và Công ty cổ phần F ký Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số 18B24/2019/HĐTCH- THECOASTALHILL, tài sản thuê là căn hộ số B, tầng H, Z, diện tích 65,3m², thuộc Dự án Khu đô thị S tọa lạc tại Khu K, xã N, Thành phố Q, Tỉnh Bình Định. Về giá thuê thỏa thuận là: 2.401.199.727 đồng. Trong vòng 10 năm đầu tiên, bên thuê - F phải trả tiền thuê theo giá thuê bằng 85% lợi nhuận/năm, nhưng trong mọi trường hợp là không thấp hơn 10%/năm giá tính tiền thuê (Giá thuê định mức)nêu trên, sau khi trừ đi các khoản thuế (nếu có) mà bên A phải nộp cho nhà nước. Thời hạn tính tiền thuê: 12 tháng đầu tiên kể từ ngày bắt đầu thì bên thuê thanh toán một lần trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày thanh toán cho chủ đầu tư 95% giá bán căn hộ. Giá thuê của các năm tiếp theo được bên thuê thanh toán thành 02 kỳ trong một năm vào tháng 06 và tháng 12. Chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng 06 và tháng 12 bên thuê phải hoàn thành việc thanh toán tiền thuê nêu trên. Thời hạn thuê là kể từ ngày ký hợp đồng thuê cho đến ngày cuối cùng của thời hạn 50 năm hoạt động của dự án theo giấy Chứng nhận đầu tư số 4370744030 do UBND Tỉnh B cấp lần đầu ngày 24/04/2015.

    Trường hợp chậm thanh toán tiền thuê, sẽ tính lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất tiền gửi tiết kiệm trả lãi sau kỳ hạn 06 tháng đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng Đ1 (B) công bố tại thời điểm thanh toán tính từ ngày thứ ba mươi mốt kể từ ngày cuối cùng của thời hạn phải thanh toán.

    Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần F đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của các năm 2020, 2021, 2022 và kỳ 1/2023 quy định tại các Điều 1, Điều 3 và Điều 4 của hợp đồng số 18B24/2019/HĐTCH- THECOASTALHILL ngày 10/01/2019; dẫn đến phát sinh tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê theo cam kết tại mục 10.1 của Điều 10 hợp đồng nêu trên. Tiền thuê sau khi trừ thuế môn bài, thuế GTGT và thuế TNCN còn lại của kỳ 1/2020, kỳ 2/2020, kỳ 1/2021, kỳ 2/2021 là 432.615.952 đồng. Theo biên bản xác minh ngày 7/6/2024 tại B Chi nhánh B1 trả sau kỳ hạn 6 tháng là 3%/ năm đối với cá nhân(3% x 150%/ 365 ngày) nên tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày thứ ba mươi mốt kể từ ngày cuối cùng của mỗi kỳ đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 61.061.131 đồng(Bảng tính tiền thuê và tiền lãi chậm thanh toán, bút lục 119).

    Giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa: Công ty cổ phần F không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh về mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 mặc dù đã áp dụng biện pháp cần thiết; không thông báo hoặc thỏa thuận lại với nguyên đơn về sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan để điều chỉnh hợp đồng theo khả năng cho phép. Mặc khác, cho đến nay Công ty cổ phần F cũng chưa thanh toán cho nguyên đơn tiền thuê từ các năm 2020, 2021 và 2022 và kỳ

1/2023.

Cho nên, cấp sơ thẩm buộc Công ty F trả tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê căn hộ sau khi khấu trừ các khoản thuế, tính từ ngày thứ ba mươi mốt kể từ ngày cuối cùng của mỗi kỳ đến thời điểm xét xử với mức lãi suất 3%/năm x150% của năm 2020, 2021 và 2022 và kỳ 1/2023 số tiền 81.367.747 đồng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại mục 10.1 Điều 10 của hợp đồng số : 18B24/2019/HĐTCH- THECOASTALHILL ngày 10/01/2019 và Điều 156, 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Từ các phân tích nêu trên, HĐXX phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần F, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên Công ty Cổ phần F phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  2. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần F, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 156, 351, 353, 357 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần F; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T.
    1. Buộc Công ty cổ phần F phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu T lãi chậm thanh toán tiền thuê các năm 2020, 2021, 2022 và kỳ 1/2023 theo Hợp đồng thuê và quản lý tài sản số: 18B24/2019/HĐTCH- THECOASTALHILL ngày 10/01/2019 là 81.367.747 đồng.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần F phải chịu 300.000₫ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000336 ngày 04/9/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  1. Các phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND Tp Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp Quy Nhơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Hiệp

Thành viên hội đồng xét xử

Thái Văn Hà

Nguyễn Thanh Tuấn

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 196/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý tài sản

  • Số bản án: 196/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê và quản lý tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger