|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI Bản án số: 195/2024/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 05 năm 2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình“ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Huy, ông Lê Văn Hoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 05 năm 2024. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 47/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị H, sinh năm 1981
- Địa chỉ HKTT: Thôn Đ, xã PS, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội
- Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã PS, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội
- Bị đơn: anh Phùng Công N, sinh năm 1980
- Địa chỉ HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã PS, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội
- (Chị H có mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Chu Thị H trình bày: Chị và anh N kết hôn năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND xã PS, huyện Ba Vì. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn chung sống tại thôn Đ, xã PS, huyện Ba Vì. Vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xung đột cãi chửi và xô xát với nhau, anh N chơi bời, cờ bạc, rượu chè, bán hết đồ đạc trong nhà để trả nợ cờ bạc, không tu chí làm ăn, chăm lo cho gia đình. Mặc dù đã được khuyên bảo nhiều lần nhưng không thay đổi. Từ tháng 10 năm 2023, chị và các con chuyển về nhà mẹ đẻ chị H sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị ly hôn với anh N.
Con chung: Vợ chồng có ba con chung là Phùng Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/01/2003, Phùng Thu T, sinh ngày 26/6/2006, Phùng Công Ng1, sinh ngày 08/8/2008; Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành và không bị khuyết nhược gì về thể chất, tâm thần. Hai cháu T và Ng1 đang ở với chị H, Chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai cháu T và Ng1 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị H đang làm công nhân của Công ty gạch ngói Ta Cao Phú Thọ, thu nhập mỗi tháng 7.000.000đ đến 7.500.000đ. Chị H có điều kiện để đảm bảo chỗ ở và sinh hoạt cho các con chung.
Tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/10/2023 anh Phùng Công N trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân. Theo anh N nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không chia sẻ, cảm thông, quan tâm đến nhau, nhiều lần xảy ra cái chửi xô xát. Chị H đã bỏ đi từ tháng 10 năm 2023 và không trở về chung sống cùng với anh. Tuy nhiên anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh N thừa nhận lời trình bày của chị H có 03 con chung. Do anh không đồng ý ly hôn chị H nên anh N không có quan điểm gì về con chung. Về tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình tố tụng, anh N không hợp tác làm việc, không ký các văn bản tố tụng của Tòa án.
Tại bản tự khai ngày 01/3/2024 của cháu Phùng Thu T và cháu Phùng Công Ng1 đều trình bày: Cháu là con của bố N và mẹ H. Các cháu được biết mẹ cháu làm đơn xin ly hôn bố cháu, nguyên nhân là do bố cháu hay mắng chửi mẹ cháu. Nay bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của cháu xin được sống cùng mẹ là Chu Thị H vì cháu nhận thấy mẹ có khả năng chăm sóc tốt cho cháu.
Tòa án nhân dân huyện Ba Vì đã tiến hành làm việc, chính quyền địa phương xã PS cho biết: Chị H và anh N là công dân của xã PS, anh chị có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã PS ngày 26/11/2001. Hai anh chị sống hạnh phúc với nhau được hơn 10 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh N có uống rượu, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi, xô xát, vợ chồng anh N, chị H đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nay chị H xin ly hôn với anh N, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Chị H và anh N có ba con chung là cháu Phùng Thị Ngọc H1, Phùng Thu T và Phùng Công Ng1. Hiện cháu Phùng Thị Ngọc H1 đã trưởng thành. Cháu Phùng Thu T và Phùng Công Ng1 đều đang sống cùng chị H, được chị H và gia đình chăm sóc tốt, phát triển bình thường và đang theo học tại Trường THPT Vạn Thắng, Ba Vì, Hà Nội.
* Tại phiên tòa,
Chị Chu Thị H giữ nguyên quan điểm, anh N vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Đề nghị cho chị H được ly hôn với anh N. Giao cháu Phùng Thu T và cháu Phùng Công Ng1 cho chị H nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh N đến khi có yêu cầu mới. Tài sản chung, riêng, nợ chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng dân sự: Anh N cùng có hộ khẩu thường trú tại huyện Ba Vì nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì theo quy định tại khoản 1 điều 35 BLTTDS. Anh N đã nhận được các thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh N vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh Phùng Công N.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh N kết hôn tự nguyện, đăng ký tại UBND xã PS, huyện Ba Vì ngày 26/11/2001 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh N hay uống rượu, không tu chí làm ăn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi, xô xát, sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nên chấp nhận cho chị H được ly hôn anh N là phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị H và anh N có ba con chung. Hiện nay cháu Phùng Thị Ngọc H1 đã trưởng thành chị H và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi dưỡng. Đối với cháu T và cháu Ng1, chị H có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cả hai cháu đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N không đồng ý ly hôn nên không có quan điểm về con chung. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu T và cháu Ng1 do chị H nuôi dưỡng, chị H vẫn chăm sóc tốt cho các con phát triển bình thường. Mặt khác, cháu T và cháu Ng1 đều có nguyện vọng bằng văn bản xin được ở với Chị H. Vì vậy cần giao cả hai cháu T và cháu Ng1 cho chị H nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh N là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, anh N được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, riêng, nợ chung: Chị H và anh N đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị H được ly hôn với anh Phùng Công N.
- Về con chung: có ba con chung là Phùng Thị Ngọc H1, sinh ngày 22/01/2003, Phùng Thu T, sinh ngày 26/6/2006, Phùng Công Ng1, sinh ngày 08/8/2008. Hiện nay cháu Phùng Thị Ngọc H1 đã trưởng thành nên không giải quyết về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung. Giao cháu Phùng Thu T và Phùng Công Ng1 cho chị Chu Thị H nuôi dưỡng đến khi cháu T, Ng1 đều đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác. Anh N được quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh N cho đến khi có yêu cầu mới.
- Về tài sản chung, riêng, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Chu Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 27/02/2024, theo biên lai số 0013968.
- Quyền kháng cáo: Chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Hoàng Trọng Đức |
Bản án số 195/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 195/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHu Thị H - Phùng Công N
